Thứ Ba, 29 tháng 3, 2016

Nậm pịa, món ăn độc đáo của Thái ở Tây Bắc

(LĐO) - Nậm pịa, hay còn được gọi là nặm pịa, hoặc pịa, món ăn truyền thống và độc đáo của đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc. Đối với người Thái, nậm pịa là món ăn không thế thiếu khi đãi khách. Chính vì cái tên cũng như hương vị là lạ mà nậm pịa gây cho thực khách bao cảm giác lạ lùng, thú vị.  

< Nậm pịa, món ăn lạ miệng của người Thái.

Nậm pịa, hay còn được gọi là nặm pịa, hoặc pịa, món ăn truyền thống và độc đáo của đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc. Đối với người Thái, nậm pịa là món ăn không thế thiếu khi đãi khách. Chính vì cái tên cũng như hương vị là lạ mà nậm pịa gây cho thực khách bao cảm giác lạ lùng, thú vị.

Nậm pịa là món ăn riêng có ở Tây Bắc, do đồng bào người Thái sáng tạo và gìn giữ bao đời nay. Tên nậm pịa theo tiếng Thái, “nậm” là canh, “pịa” là chất sền sệt trong ruột non của con bò, con trâu, con dê.

Pịa được lấy từ ruột non của những con vật ăn cỏ như dê, bò, trâu và một số loại khác. Sự tỉ mỉ, khéo léo của người Thái tập trung cao độ ở món ăn này. Khi mổ những con vật này, người Thái lấy bộ lòng non và thắt hai đầu lại để giữ nguyên chất dịch trong ruột non. Chất dịch đó là phần quan trọng để làm món nậm pịa, được lấy cẩn thận để đem nấu.
Dulichgo
Bà con người Thái lấy lục phủ ngũ tạng của con vật đó như cuống tim, dạ dày, gan, ruột non... đem ninh nhiều giờ liền với xương cho đến khi nước dùng đủ vị ngọt và ngậy. Phần ruột non sau khi đã lấy pịa thì cắt khúc đem ninh cùng xương, rồi cho pịa vào và nêm cùng các loại rau thơm, lá đắng, rau mùi được băm nhỏ. Gia vị của món ăn này bao gồm ớt, tỏi, và mắc khén, một loại gia vị ma thuật của núi rừng Tây Bắc. Những loại rau thơm và gia vị tôn lên hương vị đậm đà của món ăn.

Nậm pịa được đun cho đến khi sánh lại, nước dùng sền sệt, màu nâu. Nếu mới nhìn, món nậm pịa không được bắt mắt, cũng như mùi vị khi nếm thử miếng đầu tiên sẽ gây khó chịu cho một số người. Vị đắng hăng và hơi khó ngửi, thậm chí với một số người sẽ thấy đắng ngắt, khó ăn. Nhưng nếu cảm nhận thật kỹ, thật chậm, món ăn này sẽ cuốn hút lòng người.

Vị đắng của lá đắng, của rau rừng, vị cay nồng của mắc khén đưa thêm vị ngọt của xương, thịt và pịa, làm cho người ăn cảm nhận vị đắng nơi đầu lưỡi rồi chuyển thành vị ngọt say mê nơi cuống lưỡi.

< Món đặc sản này đặc biệt đến nỗi nó bắt đầu xuất hiện tại thành phố, trong nhà hàng.
Dulichgo
Nậm pịa được dùng như món canh hoặc món nước chấm. Khi dùng là nước chấm, người Thái luộc thịt bò, thịt dê để chấm cùng nậm pịa. Dùng là món canh, nậm pịa được ăn với cơm và các loại rau thơm. Dùng theo cách nào, nậm pịa cũng nổi bật được hương vị lạ, lan tỏa tới mọi giác quan.

Chúng tôi bất ngờ và thích thú thưởng thức cảm giác là lạ bởi vị đắng chuyển sang ngọt một cách li kì, khiến những ai đã ăn, thì sẽ mê mẩn, không quên được. Nét độc đáo của món nậm pịa cũng như nét đặc sắc trong ẩm thực của người Thái cứ ru lòng người một cách nhẹ nhàng, quyến rũ.

Nậm pịa, một món ăn mang màu sắc hoang sơ, lâu đời vào bậc nhất của núi rừng, là nét độc đáo trong ẩm thực của đồng bào dân tộc Thái, khiến cho bước chân du khách quyến luyến mảnh đất và con người, xao xuyến với những hương vị riêng có của rẻo cao.

Theo Đỗ Thảo (Lao Động)
Du lịch, GO!

4 đặc sản 'bốc mùi' ở VN

Bia Thủy Môn Đình, dấu ấn chủ quyền nơi biên giới

Bia Thủy Môn Đình là một trong số rất ít di vật có hai chữ "Việt Nam" với ý nghĩa như danh xưng của đất nước từ trước năm 1804 hiện còn nguyên vẹn.

< Bia Thủy Môn Đình tại Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn.

Cách cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn) khoảng 2 km có một mái đình, phía dưới dựng tấm bia đặc biệt. Đây chính là phiên bản của bia Thủy Môn Đình do ông Nguyễn Đình Lộc, một viên quan triều Lê Trung Hưng, dựng tại đình Thủy Môn (xứ Đồng Đăng, châu Văn Uyên) vào năm Cảnh Trị thứ 8 (1670) đời vua Lê Huyền Tông. Tấm bia gốc hiện trưng bày ở Bảo tàng Lạng Sơn.

Dòng họ Nguyễn Đình có gốc gác từ Nghệ An, vốn là một trong bảy dòng họ thổ ty nổi tiếng nhất của Xứ Lạng, thường gọi là “thất tộc thổ ty". Mới ngoài 20 tuổi, Nguyễn Đình Lộc được phong chức Đô Tổng Binh sứ Ty, Bắc quân Đô đốc phủ, hữu Đô đốc, Thao quận công - làm nhiệm vụ trông coi, trấn giữ vùng biên giới Lạng Sơn và tiếp đón các sứ thần của hai nước Việt Nam, Trung Quốc. Đình Thủy Môn chính là nơi làm việc của các phiên thần họ Nguyễn.

< Bia Thủy Môn Đình do Nguyễn Đình Lộc - một viên quan triều Lê - dựng tại đình Thủy Môn (thị trấn Đồng Đăng, Cao Lộc, Lạng Sơn) vào năm Cảnh Trị thứ 8 (1670).
Dulichgo
Thực hiện trọng trách được vua giao, vị quan họ Nguyễn Đình đã khuyên giải, đoàn kết nhân dân, ổn định tình hình địa phương. Sau khi yên ổn, ông lập bia ghi lại những việc đã làm truyền cho thế hệ sau, nhắc nhở con cháu biết đoàn kết, gìn giữ phát huy truyền thống dòng họ để chung tay bảo vệ vững chắc biên cương của tổ quốc.

Bia được làm bằng đá núi hình khối hộp chữ nhật. Bà Chu Quế Ngân, Trưởng phòng kiểm kê - bảo quản Bảo tàng Lạng Sơn cho biết, điều làm nên giá trị đặc biệt của tấm bia chính là nội dung văn bia chứa đựng thông tin, tư liệu vô cùng quý giá về tên gọi, chủ quyền lãnh thổ của đất nước ở nơi địa đầu tổ quốc, có ý nghĩa hành chính rõ rệt và thể hiện vai trò của các dòng họ thổ ty.

Theo các nhà nghiên cứu, bia Thủy Môn Đình là một trong 7 hiện vật, tài liệu, thư tịch cổ có hai chữ "Việt Nam" với ý nghĩa như danh xưng của đất nước từ trước năm 1804 còn nguyên vẹn. Trong văn bia có câu: "Việt Nam hầu thiệt/ Trấn Bắc ải quan/ Thạch bích hoàn vũ/ Uyên quận giới phiên/ Đồng Đăng linh ấp” với ý nghĩa “đây là cửa ngõ và yết hầu của nước Việt Nam, là ải quan trấn giữ phương Bắc, vách đá giữa trời, quận sâu nơi biên giới. Ấp thiêng xứ Đồng Đăng”.

Hai chữ "Việt Nam" trong tấm bia chứng minh tên nước Việt Nam đã có từ sớm, không phải như một số tài liệu cho rằng tên nước Việt Nam mới xuất hiện từ thời nhà Nguyễn - sau khi vua Gia Long (Nguyễn Ánh) lên ngôi năm 1802, thống nhất đất nước mới đổi quốc hiệu là Việt Nam vào năm 1804. Tức là cách đây hơn 3 thế kỷ, danh xưng Việt Nam đã được sử dụng.

< Hai chữ Việt Nam trên bia Thủy Môn Đình thể hiện ý nghĩa quốc gia và danh xưng.

Tên bia viết bằng chữ Hán theo kiểu đại tự, bố trí theo chiều ngang “thể tồn bia ký” (bia gìn giữ truyền thống tộc họ). Dọc hai bên thân bia có đôi câu đối với nội dung: An trấn Thủy Môn Đình đình tiền thủy lục/ Tỏa thược Thiên Nam giới giới hạn thiên thư". Dịch nghĩa: “Gìn giữ đình Thủy Môn trước đình đường quanh suối lượn/ Khóa chặt ải Nam Quan, quan ải phân định sách trời”.
Dulichgo
Nội dung văn tự trên bia nêu rõ vị trí vùng đất Lạng Sơn là phên dậu của tổ quốc, là cửa ngõ, yết hầu, ải quan trấn giữ phương Bắc của nước Việt Nam. Đình Thủy Môn là nơi núi sông bờ cõi trời đất đã được phân định. Ngoài ra, ải quan trấn giữ phương Bắc còn có nghĩa đối lại với Trấn Nam quan của Trung Quốc, thể hiện tinh thần hiên ngang, vững vàng của dân tộc.

Lòng bia khắc bài ký (chữ Hán) có chủ đề chính là "liên kết để tồn tại". Vị quan Nguyễn Đình Lộc đã ghi lại những việc làm của mình để đoàn kết nhân dân bảo vệ biên cương. Mặt sau của bia chỉ có chữ mà không có hình trang trí. Chính giữa thân bia khắc chữ Hán viết theo lối đại tự, bố trí theo chiều dọc: "Thủy Môn Đình" (Đình Thủy Môn).

Bà Ngân cho hay sau khi đình Thủy Môn bị hỏng, tấm bia vẫn nằm ở vị trí cũ nhưng bị đổ, rời khỏi chân bia. Năm 1991, để chứng minh cho nhận định tên gọi "Việt Nam" xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ 16 bằng thư tịch cổ, các di vật có hai chữ "Việt Nam" từ năm 1804 trở về trước, ông Nguyễn Phúc Giác Hải đã cùng ông Nguyễn Minh Tường (Viện Sử học) và ông Hoàng Giáp (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) lên Đồng Đăng (huyện Cao Lộc) tìm lại tấm bia.

< Phiên bản của tấm bia được dựng lên tại vị trí cũ, cách cửa khẩu Hữu Nghị ngày nay 2 km.

Trước đó, năm 1971 một chuyên viên thuộc Bộ Ngoại giao khi đi công tác từ Trung Quốc về nhìn thấy nội dung tấm bia, biết ý định này đã kể lại với ông Hải. Bia được phát hiện trong một bụi cây tại sườn đồi.
Dulichgo
Năm 1991, Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn đã đưa bia về Bảo tàng gìn giữ, sau khi dập, dịch nội dung tấm bia. Tại địa điểm tìm được bia Thủy Môn Đình, phiên bản của tấm bia được dựng lên phục vụ tham quan, nghiên cứu. Điểm di tích này đã được UBND tỉnh Lạng Sơn xếp hạng di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh năm 2002.

Ông Nông Đức Kiên, Phó giám đốc Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn cho biết, bia Thủy Môn Đình là tư liệu lịch sử vô cùng quý giá có ý nghĩa về chủ quyền lãnh thổ nơi phên dậu đất nước và quyết tâm, trách nhiệm của những con người sống tại vùng biên cương quyết tâm bảo vệ tổ quốc. Với ý nghĩa như vậy, ngày 14/1/2015, Thủ tướng đã quyết định công nhận bia Thủy Môn Đình là bảo vật quốc gia.

Theo Hồng Vân (Vnexpress)

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2016

Độc đáo bánh đá Hà Giang





Bánh đá, một loại bánh được làm to như viên gạch, được vứt dưới những con suối nhỏ quanh nhà là một đặc sản riêng có của người Dao, người Nùng rẻo cao Hà Giang...




Bà con dân tộc ở vùng rẻo cao tỉnh Hà Giang có cách riêng để giữ gìn lương thực cho mình trong một năm trong tình trạng không điện, không tủ lạnh. Họ cũng có những cách đặc biệt để tạo các món ăn giải khát sau những giờ làm đồng vất vả…




Nhớ những ngày đi mò... bánh đá




Anh Tráng Seo Phì, người dân ở thôn Bản Rào, xã Na Khê, huyện Yên Minh, Hà Giang kể lại chuyện người dân cùng nhau đi vớt bánh đá ở những con suối quanh làng với giọng sôi nổi, đầy háo hức. Bánh đá được bà con vứt xuống suối cách đấy cả vài tháng, cũng mọc rêu như những viên gạch, hòn đá ở dưới suối nên khó tránh khỏi việc đi mò bánh vớt nhầm phải đá, những ai tinh ý lắm mới không nhầm lẫn.




Anh Phì kể, chính anh là người đã bị nhầm lẫn khi được vợ giao cho việc đi vớt bánh đá về nhà. Dạo đó anh đã đi đến đúng khu vực vợ mình đã cất bánh đá nhưng mò mãi không thấy chiếc bánh nào, đi xa cách đấy chừng chục mét thì thấy hình thù hai chiếc bánh xù xì như viên đá nên sung sướng ôm cả hai chiếc về nhà rồi cả hai vợ chồng hì hụi lấy xơ mướp cạo rêu, chuẩn bị thưởng thức một bữa bánh đá thịnh soạn.

Dulichgo

Cạo mãi mà chưa thấy lớp gạo trắng ngần hiện ra, chỉ thấy một màu xam xám. Gọi chồng vào với ánh mắt ngạc nhiên pha chút thất vọng, chị bảo anh: “Hay bánh nhà mình làm sai khâu nào đấy, bị hỏng mất rồi”. Anh Phì lúc này mới giật mình tự hỏi: “Hay anh vớt nhầm cục đá”. Rất may là sau vài phút cạo rêu, cuối cùng lớp gạo trắng ngần cũng hiện ra. Hai vợ chồng cùng hân hoan thưởng thức món bánh truyền thống của đồng bào.




Kể đến đây, anh Phì chợt chùng giọng xuống bảo: “Bây giờ người dân không còn cảnh rủ nhau ra suối đi mò bánh đá nữa đâu, vì mỗi người đều tìm cách dẫn nguồn nước về nhà mình để ngâm, không vứt ra sông, ra suối như trước nữa nên không có chuyện ăn gian, vớt nhầm bánh đá nhà khác như thời đói khổ trước kia nữa”.




Đã có nhiều câu chuyện cười ra nước mắt chỉ vì việc đi mò bánh đá ở các con suối quanh khu vực xã Na Khê. Chuyện người dân đi mò bánh nhưng vớt nhầm gạch, ôm đá về nhà là chuyện thường. Hoặc chuyện có người hân hoan khi chắc chắn mình vớt đúng khu vực đã vứt bánh nhưng lại dư ra một vài chiếc so với ngày mình cất… Người thật thà thì vứt trả lại, người tham thì ôm về nhà mình luôn…




“Chế tác” bánh đá




Chị Tráng Thị Nghì, cán bộ tư pháp xã Na Khê cho chúng tôi biết, đồng bào khu vực vùng cao sáng tạo lắm, họ có nhiều cách để tích trữ lương thực. Nhà chị ở xã khác, đến khi được phân công về làm tư pháp ở Na Khê mới biết nơi đây có bánh đá. Chị cho biết, gạo để làm bánh đá thường là loại ngon, kém nhất phải là gạo Bắc Hương trộn cùng với gạo nếp. Làm bánh đá rất kỳ công và mất nhiều công sức nhưng sau mỗi vụ gặt, nhà nào cũng làm bánh đá để tích trữ.

Dulichgo

Ban đầu người dân trộn hai loại gạo với nhau, sau đấy mang đi ngâm khoảng 4-5 tiếng, ngâm xong rồi lại phơi khô. Chờ cho gạo ngâm đã khô, bà con sẽ mang đi nghiền. Sau đó đồ bột gạo lên, chín nhừ thì mang ra giã, giã cho dẻo thì bắt đầu nặn thành chiếc bánh to như cục gạch. Nhưng thao tác nặn phải thật nhanh vì nếu để bột nguội thì chúng không dính quyện được vào nhau. Người nào khéo tay thì có chiếc bánh đẹp, vuông vức, nếu không thì bánh sẽ hụt trước, hụt sau. Mỗi chiếc bánh đá nặng khoảng 1kg.




Sau khi bánh đã thành khuôn thì để nguội rồi cho vào hộp (hoặc tải) ủ rơm 3 ngày. Khi nào ngửi thấy có mùi mốc thì bắt đầu mang bánh đá ra suối ngâm. Khi gia đình có nhu cầu ăn thì ra suối mò về. Chị Nghì cho biết, trước đây bà con thường mang xuống suối ngâm, nhưng nhiều lúc bị lấy trộm nên giờ người dân kéo nguồn nước về đến tận nhà để ngâm. Nếu không có nguồn nước suối thì ngâm nước tại nhà, khi nào ngửi thấy có mùi chua thì đổi nước, cứ liên tục như vậy, khoảng vài tháng, khi kho lương thực trong nhà cạn dần thì bắt đầu mang bánh đá ra ăn.




Bây giờ người dân dùng bàn chải để cạo rêu. Ngày xưa chưa có bàn chải thì bà con dùng xơ mướp để đánh rêu. Đánh cho đến khi bánh trắng tinh như gạo thì dừng lại, bắt đầu thái sợi như thái su hào xào. Sau đó mỗi người một cách ăn khác nhau, người thì ăn thay bún, người thì dùng nó như một món giải khát sau những giờ nhọc nhằn bên nương. Chị Nghì cho biết, người vùng cao không có đồ ăn vặt nên bánh đá được xem như một nguyên liệu để làm một món ăn vặt.




Hôm chúng tôi đến, trực tiếp chị Tráng Thị Nghì chế biến món bánh đá mò ở con suối cạnh nhà để đãi khách. Sau khi dùng bàn chải cọ sạch lớp vỏ ngoài, nữ cán bộ tư pháp xã phải dùng cả hai tay để cầm dao to bản, đặt vào khối bánh đá đã cứng như đá, thái từng lát bánh đá mỏng, sau đó mới thái bánh thành sợi. Rồi chị lấy gừng đập nát, cho vào nồi nước (đã có đường phên) đun sôi, sau đó thả từng miếng bánh đã được thái chỉ vào nồi, chờ nước sôi là múc ra bát ăn. Từng miếng bánh đá lúc này đã dẻo, quyện cùng mùi gừng và vị ngọt của đường phên trở thành một món ăn độc đáo của người vùng cao.

Dulichgo

Chị Nghì cho biết, cũng có những gia đình sau khi thái chỉ bánh đá, chỉ cần luộc qua nước nóng một lần, trộn nước mắm vào, cả nhà cùng ăn như người dưới xuôi ăn bún rối chấm nước mắm chanh. Họ còn tự hào về món ăn của họ ngon, dẻo, nóng sốt... ăn đứt món bún nguội lạnh của người Kinh. Bánh đá là một món ăn được coi là đặc sản truyền thống của đồng bào nên mặc dù hiện nhiều gia đình đã sắm được tủ lạnh để bảo quản, dự trữ thức ăn nhưng đồng bào vẫn làm bánh đá để ăn dần.




Vừa từ từ cảm nhận từng sợi bánh đá dẻo, ngấm vị gừng, vị ngọt của đường phên, chúng tôi vừa mường tượng tới món bánh trôi, bánh chay của người dưới xuôi. Cũng cùng một cách chế biến, nguyên liệu gần giống nhau nhưng cảm giác những sợi bánh đá nuột nà, mềm mại chạy qua cuống họng, đọng lại vị gừng cay ngọt chắc hẳn sẽ khơi gợi cho người ăn cảm giác đặc biệt hơn nhiều...




Theo Nhật Thu (Báo Pháp Luật)

13 trải nghiệm cần có ở An Giang

(TTT) - Ai đến miền Tây rồi cũng không nỡ về lại thành thị tấp nập cho mà xem!

Miền Tây đang trải qua cơn ngập mặn có thể nói là lớn nhất trong lịch sử. Những ngày này, các câu chuyện thương tâm, buồn bã của bà con nông dân miền Tây đang tràn ngập các phương tiện thông tin đại chúng, khiến cho chúng ta trong một giờ phút nào đó, đã quên mất rằng, miền Tây vốn dĩ là vùng đất vô cùng xinh đẹp và nên thơ.

Nên thôi, sao bạn không tạm quên đi những câu chuyện tiêu cực, mà quẩy balo về miền Tây chơi hè này xem sao?

Và nếu chưa biết đi đâu, thì hãy thử đến An Giang xem nào.An Giang sát bên giới Campuchia, có chợ cửa khẩu, có cảnh đẹp, có đồng lúa, có ẩm thực phong phú tuyệt vời... An Giang có gì nữa nhỉ?

Bạn có thể chèo thuyền vào rừng tràm Trà Sư trong những ngày có nắng và sẽ thấy một khung cảnh vừa nên thơ nhưng cũng không kém phần huyền bí. Với những rạch xanh rì màu bèo tấm, lâu lâu lại có những cây bổng điên điển vàng chấm phá, cảm giác cứ như là lạc vào một chốn thần tiên của hành tinh Pandora trong bộ phim Avatar vậy.

"Qua nhiều thế kỷ, nhiều người tìm đến đây khẩn hoang mở đất. Với cái nắng cháy da của mùa hạn, cơn khát nước đến thiếp đi, trong cơn mơ, các cụ tổ đã nghe tiếng róc rách của suối, khi tỉnh giấc lúc bình minh, các cụ tổ tìm ra nguồn nước từ các khe đá của ngọn Đồi.
Dulichgo
Dân làng mừng vui quá bèn đặt tên cho ngọn đồi là Tuc Chup – tiếng Khơme có nghĩa là nước chảy trong đêm, sau gọi trại ra là Tức Dụp" - Vâng, đó chính là ý nghĩa của cái tên Tức Dụp.

Ẩm thực Long Xuyên vô cùng phong phú. Và cơm tấm nhuyễn chính là một trong những món ăn nổi tiếng ở đây.

Khác với cơm tấm Sài Gòn với những lát thịt to, cơm tấm Long Xuyên có hạt nhuyễn, thịt nướng thái mỏng, điểm thêm bì và vài lát trứng kho, ăn kèm với dưa chua làm từ các loại rau như rau muống, ngó sen hoặc là cà rốt, cải trắng thái mỏng.

Đây là một món ăn vô vùng dân dã của miền Tây. Một nồi lẩu mắm sẽ có thịt, tôm, mực, cá… được nấu bằng mắm cá linh, ăn kèm với các loại rau sống như điên điển, rau nhút, diếp cá, giá, hẹ…
Dulichgo
Ở Long Xuyên, nếu bạn muốn thưởng thức món ăn này thì hãy đến quán Lẩu Mắm Cây Dừa – 95 Trần Hưng Đạo, thành phố Long Xuyên (đối diện Metro Long Xuyên) với giá khoảng 150.000 đến 200.000 đồng.

Núi Sam không cao lắm, chỉ cao tầm 284m, có đường nhựa dài khoảng 5km cho xe chạy vòng quanh lên tận đỉnh núi. Núi Sam cùng các ngọn núi khác vùng Bảy Núi là những điểm nhấn tạo nên cảnh quan tự nhiên rất thơ mộng ở miền Tây Nam.

Theo truyền thuyết, núi có nhiều linh hiển, nên người dân từ khắp nơi trên cả nước về đây cúng lễ rất đông. Vì đây là ngọn núi thiêng, nên có gần 200 ngôi đền, chùa, am, miếu nằm rải rác ở chân núi, sườn núi và cả trên đỉnh. Trên đỉnh núi có một pháo đài được xây dựng từ thời Pháp.

Ở ngã ba Núi Sam, có một ngôi chùa gọi là Tây An Cổ Tự. Chùa được xây dựng ở độ cao 284m so với mặt nước biển, theo lối chữ "tam", kết hợp phong cách kiến trúc Ấn Độ và nghệ thuật Hồi giáo cùng kiến trúc chùa cổ của Việt Nam. Chùa Tây An không chỉ là một nơi hành hương, lễ bái, mà còn là một thắng cảnh du lịch nổi tiếng của An Giang.

Đến với núi Sam, chắc hẳn chúng ta không thể bỏ qua Miếu Bà Chúa Xứ. Tọa lạc dưới chân núi Sam, phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, Miếu Bà được xây dựng với kiến trúc tháp dạng hoa sen nở với mái tam cấp ba tầng và ngói xanh cùng với các hoa văn đậm nét nghệ thuật.
Dulichgo
Mỗi năm, từ ngày 23 đến 27/4 âm lịch, người dân nơi đây nói riêng và du khách cả nước nói chung, tổ chức lễ hội Vía Bà nhằm cầu nguyện và tưởng nhớ công lao của người giúp dân dẹp loạn, ban mưa thuận gió hòa.

Người Chăm theo đạo Hồi, nên nơi đây có rất nhiều thánh đường và tiểu thánh đường; nổi bật nhất trong số đó là thánh đường Mubarak được công nhận là di sản quốc gia. Từ bến phà Châu Giang, bạn rẽ tay trái là có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của công trình này.

Đến Châu Đốc dĩ nhiên bạn không thể bỏ qua món ăn nổi tiếng ở đây là bún cá với những miếng cá lóc vàng ươm, chả lụa, thịt quay ăn kèm rau nhút cộng với nước chấm làm bằng mắm thắng đường và ớt, tạo nên một hương vị vô cùng độc đáo. Bạn có thể thưởng thức món ăn tại chợ Châu Đốc và một số hàng quán ở nội ô thành phố.
Dulichgo
Và một đặc sản không thể nhắc đến nữa chính là mắm, mắm Châu Đốc có bán khắp nơi nhưng tập trung nhiều nhất là ở chợ Châu Đốc.

Mắm có nhiều loại, tùy từng loại cá và cách thức chế biến mà người ta có thể xé nhỏ, để nguyên con, lóc lấy phi lê hoặc để cả xương. Một vài loại mắm dễ ăn mà bạn có thể mua tại chợ là mắm linh, mắm sặt, mắm lóc, mắm trèn, mắm rô, mắm chốt…

Đây là hồ bơi thuộc resort Victoria ngự trị trên núi Sam. Resort được xây dựng theo phong cách tối giản, hiện đại, hoà quyện với thiên nhiên xung quanh và đặc biệt nhất là view tràn đồng lúa độc đáo.
Dulichgo
Những hàng thốt nốt cao ngút giáp với vùng Tịnh Biên (An Giang) từ lâu đã trở thành nếp sống nếp nghĩ của người dân nơi đây. Cuộc sống của họ thường gắn liền với những sản phẩm làm từ cây thốt nốt và đây được xem là "đặc trưng" khi đến với mảnh đất Tịnh Biên này.

Dạo chơi Búng Bình Thiên vào mùa nước nổi vào tháng 7 đến tháng 10 âm lịch, bạn có thể du thuyền trên mặt hồ ngắm nhìn phong cảnh thiên nhiên hữu tình ngập tràn sắc vàng của hoa điên điển, ngắm cảnh sắc của hồ nước trời ban...

Hay tham quan "Hồ nước của trời" Búng Bình Thiên cách thị xã Châu Đốc 25km có hồ nước rộng, nước trong là nơi sinh sống của người Chăm.

Theo DK, Bi Kwon (Tri Thức Trẻ)
Du lịch, GO!

Ghé Cao Bằng đừng quên thử bánh cuốn canh

(TTO) - Nhắc tới ẩm thực Cao Bằng, nhiều người nghĩ ngay tới món bánh cuốn canh lạ miệng, ngon mà dân dã - món ăn được ưa chuộng nhất mỗi buổi sáng ở đây.

< Bánh cuốn Cao Bằng có nước dùng, giò và các gia vị hấp dẫn thực khách.

Ai từng một lần thưởng thức món ăn này sẽ chẳng thể quên được vị ngọt của nước hầm xương, bánh cuốn mềm, thơm lừng và béo ngậy.
Người làm bánh lâu năm nơi đây chia sẻ để có mẻ bánh cuốn ngon, khâu đầu tiên là chuẩn bị nguyên liệu chính, đó là gạo. Gạo làm bánh là gạo tẻ được trồng trên đất Cao Bằng, hạt gạo trắng, đều, dẻo thơm và dai, nếu gạo không ngon, bánh sẽ không trắng mịn và không có mùi thơm đặc trưng”.

Để kịp buổi chợ sáng, các chủ quán thường bắt đầu công việc từ 4 - 5g sáng. Đầu tiên là lựa gạo, ngâm gạo. Gạo tẻ ngon vo sạch rồi nghiền thành bột loãng. Bột nước xay xong phải đảm bảo tiêu chuẩn sánh, dẻo, không đặc quá và cũng không loãng, đảm bảo bánh vừa dai và mềm.

< Bánh cuốn Cao Bằng ngon và thơm là làm bằng chính gạo tẻ được trồng ở Cao Bằng.
Dulichgo
Trước khi mở hàng, người bán mang gạo đi ngâm, vo sạch rồi đem xay ướt, bởi xát bột trước từ tối bánh sẽ không ngon, không thơm và bột cũng dễ chua nếu vào mùa nóng.

Bánh cuốn ở Cao Bằng không tráng trước, có khách gọi, chủ quan nhanh tay tráng bột, cuốn bánh nhưng các nguyên liệu làm nhân có thể xào sẵn. Bởi vậy ăn bánh cuốn Cao Bằng không thể nhanh được, phải chờ cô chủ tráng từng cái bánh, dù vậy nhiều người vẫn sẵn sàng xếp hàng đợi thưởng thức bằng được đĩa bánh cuốn nóng hổi vào sáng sớm.

Nhưng nét đặc biệt riêng có của bánh cuốn Cao Bằng là ở nước dùng. Đó là thứ nước canh ninh từ xương heo loại ngon, khi chan ra bát là thấy rõ hương tủy xương thơm lừng, ngọt lịm bởi xương được chủ quán ninh từ tối hôm trước. 

< Bánh cuốn trứng nóng hổi.
Dulichgo
Đi kèm bát nước dùng được cho thêm vào vài thìa thịt băm nhuyễn, rắc chút hành xanh mướt trông vô cùng hấp dẫn. Chính vì vậy bánh cuốn Cao Bằng còn có tên gọi là bánh cuốn canh để phân biệt với bánh cuốn chấm nước mắm của vùng miền khác.

Tùy theo khẩu vị, có người thích ăn bánh cuốn canh không, người lại muốn thêm hương vị bằng quả trứng hay miếng giò.

Giò để ăn cùng bánh cuốn được gói cẩn thận trong những lớp lá chuối. Nếu bạn gọi bánh cuốn giò thì chủ quán cho giò vào cùng nồi canh xương đang ninh rồi vớt lên cùng bánh canh.

Còn với trứng, tùy yêu cầu của khách mà có thể trần chín bằng nước dùng, hoặc đập quả trứng vào miếng bánh đang tráng còn nóng hổi trên khuôn. Bánh chín cuộn bọc lấy lòng đỏ trứng gà sau đó sẽ cho ngay vào bát canh.

< Bánh cuốn Cao Bằng đặc biệt nhất khi ăn cùng nước dùng ninh xương.
Dulichgo
Ăn bánh cuốn Cao Bằng thưởng thức bát canh nóng, bánh cuốn nóng hổi, xuýt xoa trước độ cay của thứ tương ớt có vị quả mắc mật thơm dịu, người ăn có cảm giác vùng cao như rất gần. Bánh cuốn canh vì thế giản dị như một thứ quà đầy lưu luyến mà bất cứ ai dừng chân ở Cao Bằng không thể không thưởng thức.

Thị xã Cao Bằng nằm cách Hà Nội khoảng 280km. Từ Hà Nội lên Cao Bằng qua quốc lộ 3 đi qua Thái Nguyên, Bắc Kạn. Cũng có thể đi hướng quốc lộ 1 đến Lạng Sơn rồi rẽ quốc lộ 4 qua Thất Khê, Đông Khê tới Cao Bằng. Trên điểm dừng chân bạn hãy nhớ ghé một quán ven đường để thưởng thức hương vị bánh cuốn canh rất đặc trưng nơi đây.

Theo HUYỀN TRẦN (Tuổi Trẻ)

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2016

Thông báo khai giảng lớp kỹ thuật viên chẩn đoán ô tô Bosch

THÔNG BÁO CHIÊU SINH
LỚP KỸ THUẬT VIÊN CHẨN ĐOÁN Ô TÔ BOSCH


Với đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm, nhiệt tình cùng trang thiết bị hiện đại và mô hình đào tạo chuyên nghiệp của hãng Bosch và các nước Châu Âu. Phòng Kỹ thuật Chẩn đoán Ô tô được đánh giá là một trong những phòng chức năng hiện đại nhất trong lĩnh vựcchẩn đoán ô tô ở khu vực phía nam. “ Lớp kỹ thuật viên chẩn đoán ô tô Bosch” là lựa chọn cho tất cả người bạn đam mê và yêu thích ngành công nghệ ô tô.

Ngày 17/10/2015, lớp kỹ thuật viên chẩn đoán Ô Tô Bosch tại Trường CĐ KT Cao Thắng đã bế giảng thành công.

Để nối tiếp thành công đó và với mong muốn phát triển thật nhiều nhân tài cho ngành công nghệ ô tô TPauto xin thông báo chương trình chiêu sinh “Lớp kỹ thuật viên chẩn đoán ô tô Bosch”.

Khóa học sẽ trang bị cho học viên:
- Ôn tập và hệ thống lại các kiến thức chung ô tô.
- Hình thành ý thức chuyên nghiệp của một KTV sửa chữa ô tô.
- Hệ thống điều khiển điện-điện tử trên động cơ ô tô.
- Động cơ phun xăng điện tử.
- Động cơ phun dầu điện tử Common rail.
- Thực hành đấu mạch điện điều khiển động cơ, vận hành động cơ làm việc ổn định.
- Phương pháp để chẩn đoán một ô tô hiện đại.
- Hướng dẫn sử dụng các loại máy chẩn đoán của Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á…
- Hướng dẫn cách đọc tài liệu, sơ đồ mạch điện và thực hành tra cứu trên phần mềm máy tính.
- Thực hành chẩn đoán, kiểm tra sửa chữa các pan hư hỏng tổng hợp trên ô tô.
- Cũng trong chương trình học các học viên sẽ được hướng dẫn, thực tập sử dụng các phần mềm tra cứu sửa chữa ô tô, thực tập trên các máy chẩn đoán Autel hiện đại nhất trên thị trường hiện nay như: Autel Maxisys Mini MS905, Autel Maxisys MS908, Autel Maxisys Pro MS908P, Autel Maxidas DS708, Autel Maxisys MS906, thiết bị kiểm tra mạch điện Autel PS100, …

Thông tin khóa học:
- Khai giảng: Vào lúc 17h45 ngày 18 - 4- 2016
- Thời gian đào tạo toàn khóa: 6 tuần (18 buổi)
- Tuần học 3 buổi: tối 2-4-6 hoặc 3-5-7 (5h45 – 8h30)
- Đối tượng: SV ngành công nghệ kỹ thuật ô tô, Thợ sửa chữa ô tô và các kỹ thuật viên sửa chữa ô tô.
- Số lượng học viên: 20 học viên/lớp.
- Địa điểm: Trường CĐKT Cao Thắng, 65 Huỳnh Thúc Kháng, Q1, TP.HCM
- Học phí toàn khóa: 2.000.000đ/1HV/Khóa học.
- Hotline: 0888.239.338 ( Ms TiPi) hoặc Thầy Nguyễn Ngọc Thạnh - Trưởng bộ môn ô tô, ĐT: 0918.462.279

Sau khi kết thúc khóa học, học viên đạt yêu cầu được cấp chứng chỉ “KTV CHẨN ĐOÁN ÔTÔ BOSCH” do Trường CĐKT Cao Thắng cấp.

Một số hình ảnh lớp học:

TPauto giới thiệu dòng thiết bị chẩn đoán Autel Maxidas cho học viên

Nhân viên TPauto đang giới thiệu chi tiết về dòng máy chẩn đoán ô tô Autel MaxiDAS DS708

Nhân viên TPauto giới thiệu thiết bị vệ sinh kim phun xăng điện tử

Nhân viên TPauto giới thiệu thiết bị chẩn đoán đa năng Innova 3200

Lớp học lý thuyết với đầy đủ các thiết bị chuyên môn

Các Thầy đang giới thiệu về thiết bị tại phòng máy

Toàn cảnh lớp học với đầy đủ các thiết bị về ô tô

Các học viên quan sát quá trình test xe tại phòng máy


Học viên quan sát quá trình test xe của các Thầy

Thông tin liên hệ:

  • CÔNG TY TNHH ĐIỆN TỬ THIÊN PHONG
  • 338 CAO THẮNG, P.12, Q.10, HCM
  • TEL: (08) 66 722 637 - Email: sale@tpauto.vn
  • Hotline: 0888 239 338 ( Ms TiPi)

Nguồn: http://thietbichandoan.vn/thong-bao-chieu-sinh-lop-ky-thuat-vien-chan-doan-o-to-bosch.html

Chợ Gò Duối - Dĩ vãng không bao giờ lãng quên

Chợ Gò Duối được xây dựng từ lâu đời, là ngôi chợ nổi tiếng phía bắc thị xã Sông Cầu, và cả tỉnh Phú Yên. Mỗi tháng chợ họp 6 phiên vào các ngày mồng 1, mồng 6, 11, 16, 21, 26. Ngoài những phiên chính, chợ còn thường họp vào buổi chiều.

< Chợ Gò Duối (Xuân Lộc) hiện nay.

Nhờ điều kiện nằm sát bên Quốc lộ 1A, nên không chỉ cư dân xung quanh vùng mà từ khắp các nơi ở xa như trung tâm thị xã Sông Cầu trở vào đến Tuy Hòa thường đến họp chợ rất đông. Năm 1959, chợ Gò Duối được xây dựng lại với tường vách bằng gạch, mái lợp ngói. Điều kiện buôn bán vì thế phát triển hơn, các mặt hàng đầy đủ chủng loại, đáp ứng nhu cầu của nhân dân khu vực phía bắc Sông Cầu.

< Cây đa ở Chợ Gò Duối, Xuân Lộc hiện nay.

Điểm đặc biệt của Chợ Gò Duối là giữa khu chợ có một cây vông, loài cây thân to, có tán lá rất rậm và cây đa cổ thụ, tán lá sum xuê che mát cả khu chợ nên dù thời tiết có thế nào mọi người đều cảm thấy dễ chịu.
Dulichgo
Hàng hóa buôn bán ở chợ Gò Duối đa phần là thổ sản địa phương, được người dân trồng trọt, chăn nuôi đem đến trao đổi buôn bán. Số ít là các mặt hàng mới, công nghiệp mới nhập từ các nơi khác về để đa dạng hàng hóa, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.

< Những phiên chợ chuối ngày Tết.

Ở các vùng nương rẫy núi cao, có trồng các loại cây như chuối, đu đủ, cải, bắp,... được người dân đem đến buôn bán nhiều nhất. Các phiên chợ hàng tháng ở Gò Duối, từ sớm tinh mơ đâu đâu cũng thấy chuối, bát ngát chuối, nhiều đến mức nối dài từ trong chợ đến đường Quốc lộ dài hàng trăm mét.

Những ngày Tết thì chuối được buôn bán ròng rã suốt cả tháng trời, được thương lái từ ngoài tỉnh đến mua bởi chất lượng chuối nơi đây rất quá mức mong đợi.

< Một góc chợ Xuân Lộc, Sông Cầu.
Dulichgo
Ngày nay, chợ Gò Duối đã được xây mới, đổi tên thành chợ Xuân Lộc với cơ sở hạ tầng tốt nhất thị xã Sông Cầu, các mặt hàng đa dạng hơn trước rất nhiều. Tuy nhiên trong ký ức của rất nhiều người, chợ Gò Duối xưa lưu giữ những nét văn hóa rất riêng, đặc biệt và đáng tự hào.

< Gò Duối, Xuân Lộc ngày nay.

Gò Duối cũng là địa danh thuộc thôn Chánh Lộc, xã Xuân Lộc, phía bắc thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Ngày xưa, khi dựng làng, vùng này là một mảng đất thổ rộng, có vô số cây cối mọc chi chít. Người dân chia thành từng ô rồi san bằng, đám cao làm rẫy thổ, đám thấp làm ruộng lúa, những cây duối đứng thành hàng làm ranh giới cho từng đám, từng hộ đã khai phá. Về sau duối lớn, cứ vài ba năm người ta chặt tàng làm củi đun bếp, cây duối vẫn còn tồn tại trên vùng này nên nơi ấy được gọi là Gò Duối.
Dulichgo
Hiện nay số cây duối đã chết dần qua thời gian, còn lại ba cây duối cổ thụ, còi cọc đứng bên lề một khu thổ mộ cách Quốc lộ 1A khoảng 500m là đáng kể.

Theo DulichSongcau
Du lịch, GO!