Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

Biêng biếc Phượng Tím

(TCDL) - Đi dưới tiết trời se se lạnh hòa trong nắng ủ mật của cao nguyên xanh Đà Lạt, lòng người chợt thấy bâng khuâng bởi màu tím biếc của hoa phượng bịn rịn khoe sắc. Cảnh sắc Đà Lạt dịu dàng như cô gái đang yêu trước màu tím biêng biếc ấy

Tháng Ba, mùa phượng tím

Đà Lạt hiện hữu hàng trăm ngàn loài hoa, giống hoa quý, hoa đẹp của hầu hết các châu lục trên thế giới "bén duyên" đất này. Suốt bốn mùa, trên "thành phố ngàn hoa" này, hoa tươi đua nhau nở thắm góp phần tô điểm đời sống tinh thần của người dân phố núi thêm thi vị. Song, với cư dân bản địa, ngoài bốn mùa hoa ấy, có những loài hoa được mệnh danh "hoa báo mùa"; hễ khi nào thấy một loài hoa đua nhau nở rộ, khoe sắc, người ta biết Đà Lạt đang vào mùa gì trong năm...

Ví như, khi thấy trên các sườn đồi, dốc vắng... vàng rực hoa Dã Quỳ, người ta biết mùa Đông tàn và mùa nắng Tây Nguyên đã về. Hoặc khi thấy Mai Anh Đào chấp chới sắc hồng phai dưới nắng, người ta biết ngay rằng mùa Xuân đang đến.

Rồi nữa, khi trên các mái phố, hiên nhà, trên những con đường quanh co sạch, đẹp... biêng biếc sắc hoa Phượng tím, cư dân bản địa nhận biết Đà Lạt đã sang xuân! Thực ra, phượng tím bắt đầu ươm nụ từ cuối mùa Đông năm trước để rồi lặng lẽ đơm hoa, khoe sắc cho đến hết mùa Xuân năm sau. Đặc biệt, tháng Ba là thời điểm hoa phượng tím nỏ rộ xao xuyến lòng ngưởi; đây cũng là thời điểm đất trời Đà Lạt đẹp nhất trong năm - mùa nắng cao nguyên, mùa du lịch Đà Lạt!
Dulichgo
Những tưởng, du khách khi đặt chân đến Đà Lạt-thiên đường hoa - sẽ bị hàng trăm ngàn loài hoa đẹp, quý phái "choáng ngợp" thì không còn quan tâm gì đến một loài hoa tím buồn khiêm tốn nép mình bên góc phố chênh chao hay lặng thầm đứng bên những con đường dốc núi quanh co; nhưng thực ra, không phải vậy! Tình yêu của con người dành cho từng loài hoa cũng tùy thuộc vào sở thích, tình yêu và niềm đam mê "cá tính" của từng giới, từng người. Vì sao những loài hoa dại như Forget me not (Lưu Ly), Thạch Thảo, Dã Quỳ, Loa Kèn, Tường Vi... thường được giới học sinh, sinh viên, văn nghệ sĩ yêu thích và dành nhiều tình cảm nhất?

Tôi có mấy người bạn ngày xưa học cùng Khoa Ngữ văn của trường Đại học Đà Lạt, giờ công tác trong các ngành nghề khác nhau: nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo ở các tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Binh Định, Phú Yên, Ninh Thuận... đều ao ước sẽ có một ngày về lại Đà Lạt đúng vào mùa hoa Dã Quỳ, hoặc mùa hoa Phượng tím nở, để được thỏa thích ngắm hoa và hồi ức về một khoảng thời gian đẹp nhất đời người đã đi qua. Có người (đọc báo) hay tin cây Phượng tím trước nhà hàng Thủy Tạ bị gió bật gốc, người ta phải chặt đi, mà tiếc thương như đã mất một người thân!
Dulichgo
Mùa xuân năm trước, tôi phải còng lưng suốt mấy ngày trên "con ngựa sắt" để đưa anh bạn thân đi khắpcác ngõ ngách của Đà Lạt để ngắm và chụp hình những cây Phượng tím đang nở hoa. Có thể với sắc màu tím biếc của loài hoa này đã gợi cho con người ta nhớ về những kỷ niệm vui buồn, những hồi ức tươi nguyên...

"Từ đâu em tới đất này"

Mỗi loài hoa, giống hoa (bắt luận có nguồn gốc từ đâu) một khi đã "bén duyên" trên vùng đất sương mờ Đà Lạt dường như đều gắn với những huyền thoại, hay những câu chuyện tình lãng mạn và khá thi vị.Thật thiếu sót nếu chúng ta yêu hoa phượng tím Đà Lạt mà không biết loài hoa này có nguồn gốc từ đâu, hay “từ đâu em tới đất này"!

Theo tài liệu, Phượng tím có tên khoa học là Jacaranda Acutifolia, cánh hoa có màu lam tím dịu dàng; Phượng tím có nguồn gốc từ Nam Mỹ, sau đó được mang sang trồng ở một số nưốc châu Âu; thường được trồng để làm đẹp đường phố, công viên.

Năm 1962, Kỹ sư nông học Lương Văn Sáu (sinh năm 1942), tốt nghiệp Truờng"Canh nông ỏ Versailles (Pháp) thấy hoa đẹp và lạ nên ông đã mang hạt giống loài hoa này về Đà Lạt. Ông là người đầu tiên đã gieo ươm được một số cây con Phượng tím (Jacaranda) và trồng trên đường Nguyễn Thị Minh Khai (trước chợ Đà Lạt ngày nay). Nhưng loài hoa này rất khó trồng nên chỉ có một cây duy nhất sống sót và đó là cây Phượng tím đầu tiên của Đà Lạt.
Dulichgo
Phượng tím ra hoa, nhưng không đậu quả, nên kỹ sư Sáu phải chiết một số cành từ cây Phượng tím độc nhất này để trồng trước nhà hàng Thủy Tạ và tại Vườn hoa thành phố nhưng cũng chỉ có một cây ở Thủy Tạ sống và có hoa. Phượng tím có lá dạng lá kép như Phượng vĩ của Việt Nam; hoa cũng mọc thành chùm nhưng dáng hoa không giống Phượng vĩ mà có hình ống phủ lông tơ, dài từ 4-5cm. Bởi có nét khá giống Phượng vĩ nên tên hoa được "Việt hóa" thành Phượng tím từ đó cho đến tận bây giờ.

Bằng tình yêu loài "hoa lạ" mà mình đã cất công mang về ươm giống, bén rễ trên vùng đất quê hương, người "cha đầu tiên" này đã lặng lẽ hơn chục năm nghiên cứu, tìm tòi đặc tính sinh trưởng của Phượng tím để nhân giống. Cuối cùng, vào năm 1994, ông đã tìm ra một loại hóa chất (từ Pháp) kích thích việc mọc rễ trong quá trình chiết cành nhân giống... Phượng tím; đồng thời đúc kết kinh nghiệm chăm sóc cây con để tránh một số bệnh do ký sinh nhằm nâng cao tỷ lệ cây sống. Sau đó, một số cán bộ Vườn hoa thành phố và Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt cũng đã tham gia chiết, ghép được vài trăm cây Phượng tím trồng rộng rãi.

Đến những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, một số cơ quan nghiên cứu khoa học ở Đà Lạt nhân giống thành công loài Phượng tím bằng phương pháp nhân giống vô tính. Từ đó, Phượng tím được trồng ra nhiều nơi, chủ yếu trên địa bàn TP. Đà Lạt, để bây giờ Đà Lạt có thêm một loài hoa đẹp lưu luyến du khách mỗi khi tháng Ba về trên thành phố mờ sương.

Theo Thanh Dương Hồng (Tạp Chí Du Lịch)
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015

Ngắm tam giác mạch nở giữa mùa hè

(CPN) – Tam giác mạch thường nở rộ từ cuối tháng 10, đầu tháng 11 nhưng nhiều du khách đến Hà Giang vào tháng 4 cũng có được niềm vui bất ngờ khi bắt gặp một rừng tam giác mạch nở giữa mùa hè.

< Nhiều du khách rất bất ngờ khi được ngắm tam giác mạch giữa mùa hè.

Một ngày cuối tháng 4-2015, chúng tôi trên hành trình khám phá Đông Bắc, dừng chân ở khu vực xã Quyết Tiến, huyện Quản Bạ (Hà Giang) rất bất ngờ khi bên đường, một rừng hoa tam giác mạch đang nở rộ. Nhiều người ngạc nhiên thốt lên: “Tam giác mạch cũng nở giữa mùa hè sao?”

< Những cánh tam giác mạch phớt hồng mang lại cái đẹp dịu dàng cho cao nguyên đá.
Dulichgo
Cánh đồng tam giác mạch phớt hồng dịu dàng dưới cái nắng sáng dịu nhẹ níu chân chúng tôi chụp hình, ngắm nghía thật lâu mà thấy vẫn chưa thỏa.

< Người dân đã biết trồng hoa tam giác mạch trái mùa để thu hút khách du lịch.

Theo người dân nơi đây, cánh đồng tam giác mạch này được trồng trái mùa nhằm thu hút khách du lịch. Du khách sau khi tham quan, chụp hình với tam giác mạch có thể trả cho người dân bản địa một chút tiền cảm ơn.

Trên đường đi, chúng tôi còn gặp tam giác mạch được trồng trên bìa rừng, hai bên đường nhưng hoa chưa nở nhiều.
Dulichgo
Ông Trần Thế Dũng, Phó Giám đốc Công ty du lịch Thế Hệ Trẻ, đơn vị khai thác tour đưa du khách khám phá hành trình Đông, Tây Bắc, cho biết vài năm gần đây, Hà Giang đang nỗ lực tạo nhiều dấu ấn với du khách, trong đó có tam giác mạch.

< Làm dáng giữa đồng tam giác mạch.

“Ý định của Hà Giang là đưa tam giác mạch trở thành một điểm nhấn du lịch, thu hút du khách không chỉ trong mùa thu từ tháng 9-11 mà tam giác mạch sẽ được trồng và nở quanh năm. Nên một số du khách bắt gặp tam giác mạch nở giữa mùa hè ở Quản Bạ là vậy” - ông Dũng giải thích.

Trước nay, nhiều người chỉ biết đến tam giác mạch như một loài hoa đẹp nhưng trong lần ghé thăm dinh của Vua Mèo (Vương Chí Sình) ở huyện Đồng Văn, Hà Giang, chúng tôi may mắn được nếm thử món bánh làm từ tam giác mạc.
Dulichgo
Người dân bản địa lấy bột của quả tam giác mạch để làm bánh hoặc dùng hạt trộn với hạt bắp nấu rượu, một số nơi để chăn nuôi gia súc.

< Bánh tam giác mạch, món ngon độc đáo của vùng cao Hà Giang.

Bánh tam giác mạch được nướng trên than hồng, hình tròn to như cái đĩa. Khi ăn, du khách bẻ từng miếng bánh mềm xốp (giống như bánh bò ở miền Nam). Ban đầu ăn có cảm giác hơi lạt nhưng một lúc vị thơm ngon, bùi bùi của tam giác mạch mới ngấm trong cổ họng…
Bánh tam giác mạch có thể ăn cùng thắng cố, giống như bánh bắp, bánh gạo…

Theo Linh Anh (Phụ Nữ NLĐ)
Du lịch, GO!

Thăm lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt

Đã tồn tại hơn 50 năm, lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt trực thuộc Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt là nơi duy nhất ở nước ta nghiên cứu và tạo ra các sản phẩm từ phóng xạ.

Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt có hình vòng tròn khép kín, được trang bị lò mang tên TRIGA Mark II với công suất nhiệt 250 kW (công nghệ của Mỹ), chính thức đưa vào vận hành sau gần 3 năm xây dựng và đạt trạng thái tới hạn lần đầu vào ngày 26/2/1963.

Đến giai đoạn 1968 - 1975, Trung tâm hoạt động cầm chừng và không có những kết quả nổi bật. Trước thời điểm Đà Lạt được giải phóng, Mỹ đã tiến hành thu hồi các thanh nhiên liệu của lò phản ứng và mang về Mỹ.

< Lò được đầu tư nhiều máy móc hiện đại để phục vụ nghiên cứu, đo mức độ phóng xạ trong từng khu vực ở lò phản ứng rồi chuyển về hệ thống kiểm soát một cách nghiêm ngặt, quy trình chặt chẽ.

Sau ngày miền Nam được giải phóng, Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt được thành lập trên cơ sở tiếp quản Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử và được sử dụng thêm toàn bộ cơ sở vật chất tại số 13 đường Đinh Tiên Hoàng, thành phố Đà Lạt.

< Lò phản ứng hạt nhân có 2 tầng với lối lên bậc thang. Tầng cao nhất là miệng chính của lò, tầng còn lại đặt các dụng cụ liên quan đến hoạt động của lò. Miệng lò được đóng kín với hệ thống bảo vệ chắn chắc. Đây là vị trí cao nhất của lò phản ứng.


< Tầng 1 của lò phản ứng gồm nơi chứa các nhiên liệu đã bị cháy, hệ thống đo mức phóng xạ cùng các hệ thống hỗ trợ lò hoạt động.

Theo thỏa thuận hợp tác giữa hai nước Liên Xô và Việt Nam vào năm 1979, thiết kế kỹ thuật khôi phục và mở rộng lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt được các chuyên gia Liên Xô thực hiện và được phê duyệt.
Dulichgo
Công trình khôi phục và nâng công suất lò phản ứng được tiến hành trong hai năm 1982 - 1983. Đến ngày 20-3-1984 lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt chính thức đưa vào hoạt động với công suất danh định 500 kW (gấp đôi công xuất cũ).

< Các thanh nguyên liệu hạt nhân Uranium bên trong lò phản ứng, nhìn từ miệng lò.

Từ đó đến nay, Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt được giao những nhiệm vụ cơ bản như sau:

* Tổ chức triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và năng lượng nguyên tử trên nhiều lĩnh vực khác nhau để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.


< Đưa đồng vị phóng xạ đã được điều chế vào chất dẫn có phát tán nhiều phóng xạ.

* Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và đào tạo nhân lực cho sự phát triển của Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt và ngành khoa học hạt nhân của nước ta.

< Chuyển đồng vị phóng xạ từ thùng chì sang container vào khu vực điều chế dược phẩm.

* Quản lý vận hành an toàn và khai thác sử dụng có hiệu quả hoạt động của lò phản ứng. Ngoài công tác bảo đảm an toàn lò phản ứng, Viện còn hỗ trợ kỹ thuật trong việc quản lý Nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và xử lý chất thải phóng xạ cho các đơn vị sử dụng kỹ thuật hạt nhân hay những thiết bị có phóng xạ như máy chiếu X Quang, tham gia nghiên cứu quan trắc và bảo vệ môi trường.
Dulichgo
* Mở rộng hợp tác trong nước và nước ngoài để trao đổi khoa học, các sản phẩm dịch vụ và chuyển giao quy trình công nghệ hạt nhân.

< Hệ thống đo phóng xạ tự động, khi vượt mức cho phép chuông sẽ reo báo động.
Dulichgo
Theo PGS TS Nguyễn Nhị Điền - Viện trưởng nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt - mỗi tháng lò phản ứng hạt nhân hoạt động 130 giờ liên tục để sản xuất một số đồng vị phóng xạ phục vụ cho ngành y tế, công nghiệp. Ngoài ra, thỉnh thoảng lò cũng hoạt động thời gian ngắn phục vụ thí nghiệm, nghiên cứu.

< Cơ cấu của lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt hiện nay.

Với các ứng dụng của lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, những chất phóng xạ được điều chế bằng cách chiếu xạ kích hoạt hạt nhân các đồng vị bền bằng eutron trên lò phản ứng hạt nhân, tiếp đến là công nghệ xử lý hoá phóng xạ để thu được sản phẩm cuối cùng bảo đảm chất lượng cho sử dụng thực tiễn.

Được biết, đây là nơi duy nhất ở nước ta nghiên cứu và tạo ra các sản phẩm từ phóng xạ. Các chất phóng xạ này được điều chế bằng cách chiếu xạ kích hoạt hạt nhân các đồng vị bền bằng eutron trên lò phản ứng hạt nhân, tiếp đến là công nghệ xử lý hóa phóng xạ.

Du lịch, GO! tổng hợp

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Cao nguyên đá Tủa Chùa

Cao nguyên đá Tủa Chùa (huyện Tủa Chùa, Điện Biên) nằm trên độ cao 1.500m so với mực nước biển với hình dạng đá tai mèo “xếp lũy, xếp thành” gắn với những cái tên nghe lạ tai như: núi đá Tò Cu Nhe, núi đá Chung Khóa, núi đá Chung Si Seng, thành đá Vàng Lồng... đã thu hút du khách về miền Tây Bắc bởi vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ.

< Một góc cao nguyên đá Tủa Chùa nhìn từ trên cao.

Cách trung tâm tỉnh Điện Biên gần 130km, với khoảng 3/4 diện tích là núi đá tai mèo, cao nguyên đá Tủa Chùa được ví là một “tiểu Đồng Văn thứ hai” của Tổ quốc. Từ trung tâm huyện Tủa Chùa, men theo con đường Tỉnh lộ 129, chúng tôi phải vượt qua quãng đường dài 30 km để đi vào cao nguyên đá với nhiều đoạn đường uốn lượn, vượt nhiều núi, vực sâu, dốc cao. Nhưng bù vào sự vất vả của quãng đường đó, chúng tôi cũng lại được mãn nhãn khi được chiêm ngưỡng cảnh đẹp vô cùng thú vị của núi rừng Tây Bắc.

< Đồng bào dân tộc Mông cần cù chịu khó, sinh sống hài hòa với thiên nhiên trên cao nguyên đá.
Dulichgo
Tả Phìn trong tiếng Mông có nghĩa là một vùng đất bằng trải rộng trên núi cao. Bởi vậy những dãy núi đá tai mèo nơi đây không sừng sững như ở Đồng Văn (Hà Giang) mà tạo thành những ngọn đồi nhấp nhô, uốn lượn, nằm rải rác chạy dọc theo con đường tỉnh lộ 129.

< Cao nguyên đá Tủa Chùa là nơi có 100% là đồng bào dân tộc Mông sinh sống.

Thời tiết ở đây dường như không quá khắc nghiệt nên cuộc sống của hơn 570 hộ đồng bào người Mông với trên 3.300 nhân khẩu vẫn có thể phát triển kinh tế nông nghiệp với các loại cây trồng như ngô, lúa nương, mận, đào...

< Đông bào dân tộc Mông sống trên vùng cao nguyên đá khu vực Sín Chải dùng trâu cày trên những khoảng đất nhỏ, giữa các khe đá tai mèo để canh tác.

Chúng tôi bắt gặp gia đình vợ chồng Hạ Mặc (thôn Séo Phìn) đang cùng con trâu cày bừa trên những hốc đá tai mèo. Con trâu cày được luống đất nào, người vợ đi theo sau gieo hạt ngô vào luống đất đó. Thỉnh thoảng con trâu khự lại rồi đi tiếp.

< Một cung đường ngang qua cao nguyên đá khu vực xã Sín Chải.
Dulichgo
Anh Hạ Mặc cho biết: “Trâu trên vùng cao nguyên đá này đặc biệt  lắm. Nó biết tự dừng khi đang cày mà gặp đá. Bởi vậy, cày của đồng bào Mông ít khi bị gãy lắm!”.

< Tận dụng các khe đất nhỏ giữa các lớp đá tai mèo gieo trồng cây lương thực.

Hình ảnh con trâu cứ lẫm lũi đi trước, vợ chồng anh Hạ Mặc thì cứ lặng lẽ theo sau, gieo xuống những mầm xanh và hy vọng vào những luống đất ít ỏi giữa đá khiến chúng tôi có một cảm nhận con người nơi đây cần cù chịu khó, sinh sống hài hòa với thiên nhiên.

< Một góc Thành đá Vàng Lồng, nơi được dựng bởi kỹ thuật xếp đá thủ công, không có sự tham gia của các chất kết dính.

Xen kẽ trên cao nguyên đá ở Tả Phìn là những bản làng người Mông Sí (hay còn gọi là Mông Đỏ) với những ngôi nhà cổ độc đáo, khiến những ai đi qua cũng phải trầm trồ, tán thưởng. Chúng tôi ghé thăm ngôi nhà được lợp toàn bộ bằng đá của gia đình ông Thào A Mang.

< Ông Thào A Mang bên phiến đá được sử dụng để lợp mái nhà.

Ông Mang cho biết, để có đá lợp mái nhà này ông đã phải lên tận vùng sông Đà, vận chuyển bằng xuồng máy, rồi bằng ngựa, sau bằng ô tô mới về được đến bản. Mà chỉ tính riêng tiền đá làm mái, ông đã phải tiêu tốn 3 con trâu (tương đương với khoảng 90 triệu đồng).
Dulichgo
Anh Tô Văn Tuân, Phó Phòng Nông nghiệp huyện Tủa Chùa đưa chúng tôi đi thăm di tích Thành Vàng Lồng. Theo lịch sử ghi lại thì Thành Vàng Lồng được xây dựng cách đây hơn 2 thế kỷ. Đây được đánh giá là một công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị lớn về mặt lịch sử, văn hóa.

< Ngôi nhà sàn với mái hoàn toàn lợp bằng đá của ông Thào A Mang ở khu vực  Sín Chải.

Thành Vàng Lồng được dựng thành một vòng tròn khép kín bởi kỹ thuật xếp đá thủ công, không có sự tham gia của các chất kết dính. Các phiến đá được xếp theo một trình tự khoa học: Những phiến đá to được xếp từ phía dưới cùng và đến những phiến đá nhỏ được xếp dần lên đến mặt thành, tạo thành mặt phẳng. Thành cao khoảng 3m, rộng trên 1m, không những người mà ngựa cũng có thể đi được trên mặt thành.

Rời khỏi di tích Thành Vàng Lồng cũng là lúc chúng tôi kết thúc trọn vẹn một ngày trải nghiệm trên vùng cao nguyên đá Tủa Chùa. Như có chút gì đó còn tiếc nuối, vương vấn, chúng tôi trèo lên mỏm đá cao để một lần nữa được chiêm ngưỡng toàn cảnh khu “tiểu Đồng Văn” Tủa Chùa để lưu giữ trong mắt sự kỳ vĩ và hoang sơ của vùng đất đẹp như một bức tranh thủy mặc.

Theo Thảo Vy,Việt Cường, Hoàng Hà (Vnanet.vn)
Du lịch, GO!