Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

Đống Phúc Tự: ngôi chùa gỗ lớn nhất Quảng Ninh

Là một trong những ngôi chùa đẹp, kiến trúc độc đáo, Chùa Đống Phúc được xây dựng bằng 500m³ gỗ lim, hoa văn trang trí chùa được trạm trổ công phu, tinh vi. Đây là một trong những ngôi chùa bằng gỗ lớn nhất tỉnh Quảng Ninh.

Theo bia ký để lại, chùa Đống Phúc của làng Yên Hưng cổ (bao gồm xã Yên Giang, thị trấn Quảng Yên và một phần phía tây xã Cộng Hoà ngày nay) được xây dựng từ thời nhà Lý vào cuối thế kỷ thứ XI. Dưới thời nhà Trần, chùa trở thành danh lam, nơi truyền bá Phật pháp của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Do ở vị trí thuận lợi đông dân nên địa phương này là điểm khởi đầu tiếp nhận và phát triển Phật giáo trong vùng. Đống Phúc Tự đã trở thành trung tâm Phật giáo của trấn An Bang các thời Trần - Lê của An Quảng - Quảng Yên thời Nguyễn. Trải qua ngót một ngàn năm, đất nước thăng trầm, Đống Phúc Tự cũng chịu bao sự đổi thay.

Đầu thế kỷ thứ XIII, giặc Nguyên Mông xâm lược nước ta, triều đình nhà Trần phát động toàn dân làm “vườn không nhà trống” chuẩn bị đánh giặc.

< Gỗ lim dùng xây dựng chùa.
Dulichgo
Ở vị trí cửa ngõ Bạch Đằng, nhân dân địa phương thực hiện triệt để lệnh này. Đình, chùa, đền, miếu, nhà ở... được phá dỡ lấy gỗ, những cánh rừng lim bạt ngàn được khai thác. Tất cả biến thành cọc nhọn dựng thành trận đồ thuỷ chiến Bạch Đằng, tiêu diệt toàn bộ đạo thuỷ quân đồ sộ, dữ dằn của Nguyên Mông, làm nên đại thắng Bạch Đằng 8-3 năm Mậu Tý (1288) dưới sự chỉ huy tài giỏi của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương.

Đất nước thanh bình, dân làng xây dựng lại chùa Đống Phúc trên nền đất cũ, tiếp tục truyền bá Quốc giáo; lấy từ bi, hỉ xả, hành thiện cứu khổ, cứu nạn giúp đời, tế độ chúng sinh.

Quá trình từ khởi đầu ở triều đại nhà Lý đến cuối triều đại nhà Nguyễn, trong khoảng thời gian tám trăm năm, Đống Phúc Tự được nhiều đời Thiền sư kế tiếp trụ trì, nhiều lần được trùng tu, tôn tạo. Thuở ấy là ngôi chùa nhỏ, kiểu dáng thanh nhã, giản dị. Năm 1943, Thiền sư Thích Thanh Túc từ trần, chưa có sư trụ trì kế tiếp. Cửa Tam Bảo mất dần nề nếp, chỉ còn là nơi thắp hương cúng bái cầu phúc, cầu lộc trong những ngày tuần tiết.
Dulichgo
Tiếp đó, những năm dân làng phải dồn sức cùng cả nước kháng chiến chống Pháp, Mỹ… rồi mải lo toan hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế, ổn định cuộc sống, cán bộ, nhân dân địa phương chưa có điều kiện quan tâm đến tâm linh, tín ngưỡng nên không có người quản lý trực tiếp, toàn bộ đất vườn vườn chùa rộng lớn bị chia xé, chiếm đoạt, những pho tượng cổ bị đánh cắp.

< Cổng Đống Phúc Tự.

Các nơi thờ tự của chùa sụp đổ, dột nát hư hỏng. Một nhóm các già mộ đạo tự bảo nhau quyên góp gắn vá nhiều lần. Cảnh chùa chật chội, bức bối, vắng vẻ, tiêu điều, hầu như tắt hẳn tiếng mõ điểm chuông ngân.

Ngót nửa thế kỷ, nhìn cảnh chùa hoang tàn, những phật tử già nua xót lòng, khắc khoải ước mong có sư về trụ trì phù trợ tâm linh, dẫn dắt mình tu tâm hành thiện. Đáp ứng nguyện vọng ấy, năm 1998, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các cấp chính quyền tỉnh Quảng Ninh, huyện Yên Hưng đã cử Đại đức Thích Thanh Lịch về chùa Đống Phúc.

Nhận trách nhiệm trụ trì một ngôi chùa nhỏ dột nát ở một xã nhỏ nghèo nàn, phần lớn dân xã ý thức tín ngưỡng chưa xuôi thuận..., nhà sư trẻ 25 tuổi vừa rời ghế giảng đường Phật học, đứng trước những khó khăn chồng chất, lạ người, lạ cảnh, trăm bề thiếu thốn.
Dulichgo
Đại đức đã tu sửa chùa cũ cao ráo, thoáng mát, gọn gàng, thanh tịnh, sửa sang ban bệ, chấn chỉnh vị trí tượng thờ, tạo nên không gian thiêng liêng, trang nghiêm. Thiền sư chú ý củng cố phát triển Hội Phật tử, phục hồi nền nếp hương hoa, đèn nhang, tụng niệm hàng ngày. Tiếng mõ lại đều đặn, nhịp nhàng. Tiếng tụng kinh lại êm đềm, ấm áp. Âm thanh chuông chùa lại ngân nga, êm ả vang xa...

Nhà Chùa đã mua lại toàn bộ đất bị chiếm đoạt, giải được nỗi nhức nhối trong hàng chục năm nay của phật tử, của dân làng. Nhà chùa còn mua thêm một số ruộng cận kề mở rộng diện tích, san gạt mặt bằng thoáng đãng.

Thiền sư cũng nhanh chóng cải tạo cảnh chùa. Hàng chục chậu cây cảnh nhiều dáng thế được chuyển về, xếp đặt quanh sân, trước chùa, bên lối đi... được uốn tỉa thường xuyên, xanh tươi, mượt mà, ngắm không chán mắt. Hàng chục bồn hoa bốn mùa rực rỡ mầu sắc, ngan ngát hương. Cảnh chùa trở nên đẹp đẽ, thanh tịnh, thu hút những người cao tuổi năng đến thăm chùa, thưởng ngoạn cảnh thiền.

< Cây thị nghìn tuổi che bóng mát trong ngôi chùa cổ.

Năm 2009, chùa đã khánh thành ngôi thờ Tổ, kiến trúc dáng cổ, to đẹp khang trang. Năm 2010, chùa mở hội đúc chuông 1.000kg, hướng về Đại lễ kỷ niệm Thăng Long - Hà Nội tròn 1.000 năm tuổi. Hoàn thành năm 2012, chùa được xây bằng 500m³ gỗ lim với 76 trụ gỗ lim đỡ vòm chùa. Kiến trúc phía trong đặc trưng bởi hoa văn rồng phượng được chạm khắc công phu, giữa chính điện là hàng chục trụ gỗ lim kỳ vĩ.

Đây là ngôi chùa được xây dựng theo kiến nhà Trần, hoa văn họa tiết thời Lê và Nguyễn. Chùa có tổng diện tích khuôn viên khoảng trên 4000m², diện tích xây dựng 368m², được bố trí hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên, cây cối và kiến trúc Phật giáo. Ngoài ra chùa còn có 20 trụ đá trạm khắc được đặt trước mặt chính vòm đã làm ngôi chùa gỗ thêm uy nghi, trang trọng.

Hiện chùa cũng là trụ sở của Ban trị sự Giáo hội phật giáo Việt Nam thị xã Quảng Yên, là một trong những điểm nhấn quan trọng Khu di tích Quốc gia đặc biệt Bạch Đằng.

Du lịch, GO! tổng hợp

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2015

Ngôi chùa lạ trên quần đảo Hải Tặc

Hải tặc chỉ có nghĩa là cướp biển. Trên vùng đất Hà Tiên xưa của Việt Nam cũng có cướp biển, do đó người Pháp vẽ bản đồ đã gọi nhóm Hòn Tre là “Quần đảo Hải Tặc” (Iles des pirates).

Chúng tôi từ Hà Tiên háo hức đáp tàu ra Hòn Tre, nay là Tiên Hải trong quần đảo Hải Tặc. Tàu ra khỏi cửa biển, bỏ lại phố chợ Hà Tiên cùng núi non nhấp nhô. Chúng tôi tiếp cận đảo, cái gần cái xa; lẫn trong đó có cả những ghe tàu ra khơi đánh bắt.

Gần hai giờ sau, tàu cập bến. Đường lên bờ ngay chỗ tàu đậu nhưng chúng tôi phải vất vả vì chồng cọc bê tông nằm cản lối, chắc rằng nơi đây sắp xây cầu cảng. Đi giữa lộ cái đến ủy ban xã, cũng phải len qua nhiều hàng quán. Người dân đảo nhìn chúng tôi ngỡ ngàng xa lạ nhưng nụ cười đầy vẻ hiếu khách.

Từ ủy ban xã, theo  con lộ chính là lối đi quanh đảo, chúng tôi đến thăm đồn biên phòng 738. Trường học, bệnh xá, nhà dân nằm gọn hai bên đường. Ai chưa đến Hoàng Sa, Trường Sa của tổ quốc, khi đến đồn biên phòng xã đảo, sẽ có cái nhìn vừa tổng thể vừa chi tiết về cuộc sống người lính đảo.

Nói về lính biên phòng, phần lớn họ đến từ các tỉnh miền Trung, miền Bắc nước ta. Chính vì vậy, anh em lính đảo thiếu vắng tình cảm gia đình. Nhưng bù lại, họ được nhân dân và chính quyền tận tình chăm sóc. Nhờ vậy, họ an tâm vững dạ bảo vệ an ninh vùng đảo này của tỉnh Kiên Giang. Vui thay, cũng có anh lính đảo tình nguyện nhập cư “ở rể” luôn.

Từ đồn, chúng tôi đến xem hồ nước ngọt, có hệ thống lọc, do các anh bộ đội biên phòng xây cất. Thêm chặng đường ngắn thì gặp bãi tắm. Bãi lài và cạn. Tuyệt vời với làn nước trong xanh êm ả, mặt nước phẳng lì đến khó tin, tìm không ra một gợn sóng vỗ bờ.
Dulichgo
Cát thì cứ trắng phau phau. Từ đây trở lên, đường được trải nhựa khá tốt. Chúng tôi cứ thế mà đi. Chợt có người phát hiện dưới bờ biển, một trụ bia hình mỏ neo của Hải quân chế độ cũ, bia khắc tên các đảo: Hòn Tre Lớn, Hòn Tre Nhỏ, Hòn Tre Vinh, Hòn Đước, Hòn Giang, Hòn Gùi, Hòn Bánh Lái, Hòn Đồi Mồi, Hòn Kiến Vàng, Hòn Phụ Tử Nhỏ, Hòn Bánh Tét, Hòn Bánh Ít, Hòn Bánh Tổ…

Chúng tôi tiếp tục lên cao dưới cái nắng chói chang thôi thúc. Khi vừa qua khúc quanh, lại thấy nhiều bậc cấp cao, trên đó thật im mát. Mọi người phấn khích bước lên. Ôi, thì ra… cái chùa có tên Sơn Hòa tự. Vừa bất ngờ lại quá mừng, nỗi mệt nhọc bỗng dưng tan biến, chúng tôi hăng hái vào chùa thắp nhang lạy Phật để rồi… cãi nhau:

– Đây không phải chùa mà là miếu.
– Sơn Hòa tự. Tự là chùa. Nhưng sao không có người trông coi, không có sư trụ trì, cửa mở toang mà bốn bề vắng tanh vắng ngắt.
– Chẳng qua người dân đảo có nhu cầu thờ cúng. Họ tự lập chùa, nhỏ thôi, để đến cầu xin, dâng lễ, tạ ơn trước hoặc sau khi ra khơi.
– Đúng là “Mái chùa che chở hồn dân tộc – Nếp sống muôn đời của tổ tông”.

Có người hăng máu cãi rằng:

– Nơi thờ Phật không thể gọi là miếu. Và xin nhớ cho rằng, thị xã Hà Tiên có những ba ngôi chùa mang tên “Hòa”. Đó là Thanh Hòa tự ở xã Thuận Yên, Vạn Hòa tự ở xã Dương Hòa và Sơn Hòa tự ở xã Tiên Hải, tức là chùa này đây.
Dulichgo
Mỗi người nhìn Sơn Hòa tự bằng cái tâm phân biệt đối xử của riêng mình, bởi vì chùa này sao mà vắng vẻ, đìu hiu, nhỏ nhắn sơ sài quá, thật không giống ai. Có giống chăng, ở cách bài trí nghi tượng cùng các vật dụng bình hoa, đèn nhang, chung trà, quẹt lửa v.v. Tất nhiên không có thùng phước điền. Điều lạ nữa, ở đây, từ trong ra ngoài đều sạch. Sau chùa có mắc võng, cả chổi quét, giỏ đựng rác. Điều chứng tỏ có bàn tay con người ẩn mình, chăm sóc.

Và hơn cả sự bất ngờ, chúng tôi lại được một phụ nữ Phật tử nơi đây cho biết: “Vào mồng một, rằm, nhất là ngày Tết, ngày lễ Phật, chùa này đông vui lắm, cũng trống cũng chuông mõ đàng hoàng. Các cụ già lo việc cúng kiếng. Tiền bạc thì người dân, mạnh ai nấy cúng…”. Nghe vậy, chúng tôi khấp khởi mừng, góp tiền cúng dường ngay tại chỗ, nhờ chị này chuyển giúp vì gần đến ngày lễ Vu-lan. Chị có hỏi tên để ghi vào sổ, chúng tôi chỉ cười, bảo rằng: “Phật tử”.chua-dao-hai-tac

Chùa ở lưng chừng núi đảo, đủ cho ta bao quát cái mênh mông diệu vợi của biển trời; lô nhô nhiều đảo lớn, đảo nhỏ, vừa xa vừa gần. Khách lạ khó bề phân biệt cái ta cái bạn giữa hải phận Việt Nam – Cambodia. Nhưng đó là chuyện nhỏ, không phải lo, người dân xứ đảo, từ tấm bé, khi mới bước chân xuống biển đã thuộc nằm lòng tên gọi từng chỗ đứng mỗi ngọn đảo của tổ quốc mình.

Đầu óc loay hoay với Sơn Hòa tự, chúng tôi không thể không nghĩ tới một khi Tiên Hải được xây dựng thành khu du lịch nghỉ dưỡng, người ta không ngần ngại phá bỏ Sơn Hòa tự. Nếu quần đảo Hải Tặc được duyên lành thì nơi đây sẽ có ngôi chùa tầm cỡ hoặc khu thiền viện thay thế, vừa tôn vinh cảnh sắc thiên nhiên vừa làm trụ bảo vệ “hồn dân tộc” tại khu vực biên giới phía Tây Nam này.
Dulichgo
Trước khi ra về, theo đường nhựa, chúng tôi lên đỉnh núi. Lại bất ngờ thấy dãy nhà đơn sơ của Hải quân Việt Nam Cộng hòa, nay vẫn còn nguyên vẹn.

Và đúng là cái duyên thật diệu kỳ. Từ đó về sau, mỗi lần nhớ Sơn Hòa tự, chúng tôi ra đó bằng tàu sắt hay tàu gỗ, mua vé 40.000 đồng/người, lại được hưởng chế độ giảm giá cho người già. Vui nhất, mỗi lần ra, mỗi lần thấy chùa khang trang tươm tất hơn. Nhiều bàn ghế đá đỏ hồng, ghi tên người hỷ cúng được kê kín sân gạch, tượng Phật còn đậm nét sơn, mái tôn ở sân hiên cũng được thay, cơi nới thêm…

Bây giờ tôi đã là người khách quen của tàu. Nếu không ra đó được, tôi chỉ cần gửi tiền cúng dường của mình qua người chủ tàu hay chú tài công, họ sẵn lòng giúp, có khi lại cúng thêm vào. Trước thềm năm mới Quý Tỵ 2013, việc cúng này cũng không ngoại lệ.

Theo Văn Hóa Phật Giáo blog, ảnh sưu tầm.
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

Khám phá đền Kiếp Bạc - Hải Dương

Phong cảnh hữu tình của Kiếp Bạc cũng làm say đắm bao du khách đến đây. Đi thuyền trên sông Phả Lại sẽ được ngắm toàn bộ cảnh quan nơi này. Du khách còn được xem phim, xem kịch, xem chèo có nội dung gắn với lễ hội hoặc chứng kiến tận mắt những chiếc cọc đã từng đâm thủng chiếc thuyền của tướng Ô Mã Nhi hay sơ đồ những trận đánh của Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn trong bảo tàng trưng bày truyền thống của quân dân nhà Trần…

Kiếp Bạc là tên ghép của hai vùng Vạn Yên (làng Kiếp) và Dược Sơn (làng Bạc). Đền được xây dựng từ năm Canh Tý (1300). Qua nhiều thế kỷ, các công trình kiến trúc ở Kiếp Bạc từ thời Trần và thời Lê đã bị hủy hoại. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khu đền được trùng tu, tôn tạo.

Khu vực đền Kiếp Bạc nằm gần Lục Đầu Giang, là nơi tụ hội của sáu con sông: sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy và nhánh chính của sông Thái Bình.
Dulichgo
Một số người theo thuyết phong thủy cho rằng đây chính là nơi tụ khí để gây dựng cơ nghiệp. Theo đường bộ, đền Kiếp Bạc cách Hà Nội khoảng 80 km (50 dặm) đi theo đường quốc lộ số 1 đến Bắc Ninh rẽ sang đường quốc lộ số 18 và cách chùa Côn Sơn khoảng 5 km (3 dặm).

Cổng đền uy nghi bề thế với bức đại tự trên tam quan “Dĩ thiên vô cực” (Sự nghiệp này còn mãi với trời đất), hàng chữ bên dưới là “Trần Hưng Đạo Vương từ”.

Qua cổng tam quan là vào một sân rộng tục truyền là “Bãi Kiếm”, là nơi xét xử Phạm Nhan, tên tướng giặc có nhiều bùa phép gian ngoa. Hai bên sân là 2 dãy nhà dài, để khách thập phương dừng chân sửa soạn mâm lễ vật.

Nhà đại bái phía trong ở giữa đặt bàn thờ lớn, 2 bên là 4 ngai thờ 4 người con trai của Trần Quốc Tuấn là Trần Quốc Hiếu (Hiện), Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Tảng, Trần Quốc Uy (Uất).

Bên trong hậu cung có 3 toà điện: tòa điện ngoài cùng thờ Phạm Ngũ Lão, tòa điện thứ hai thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, tòa điện trong cùng thờ phu nhân Trần Quốc Tuấn là công chúa Thiên Thành và hai con gái được gọi là Nhị vị Vương cô.
Dulichgo
Trong đền hiện còn 7 pho tượng bằng đồng: Tượng Trần Quốc Tuấn, phu nhân, 2 con gái, con rể là Phạm Ngũ Lão, Nam Tào, Bắc Đẩu và 4 bài vị thờ các con trai của ông cùng 2 gia tướng là Yết Kiêu và Dã Tượng.

Lễ hội xưa bắt đầu từ ngày 16/8 đến ngày 20/8 âm lịch hằng năm. Nay đã khác, hội bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn, tuy nhiên trọng hội vẫn là ngày 18 tháng 8. Khách không chỉ đến Kiếp Bạc vào ngày hội mà quanh năm suốt tháng với số lượng ngày càng đông. Đền Kiếp Bạc còn ngày lễ trọng thứ hai vào 28/9, ngày mất của Thiên Thành công chúa-phu nhân của Đại vương, nhưng ngày này không thành hội , chỉ có hai làng sở tại tổ chức tế lễ cùng vài đoàn khách xa.

Phần lễ: Ngày 10 tháng 8 làm lễ mở cửa đền, chuẩn bị cho lễ hội hằng năm, đây là môt việc làm chiếu lệ, thực tế thì đền ngày nào cũng mở cửa tiếp khách.

Lễ vật khai hội: Làng Vạn sắm 8 mâm, mỗi mâm một lợn sống khoảng 70-80kg, đại diện cho 8 giáp. Dược Sơn 4 mâm tương tự, đại diện cho 4 giáp. Về bánh trái có: Bánh trong, bánh bột lọc, bánh chằng gừng, bánh rán, bánh phu thê, xôi mầu và mâm ngũ quả.
Dulichgo
Trên đây là lễ vật của hai xã sở tại theo lệ, còn lễ vật của khách thập phương, quan lại các cấp thì có thể nói, cuộc sống đương đại có gì quý báu thì trên mâm lễ có thứ đó. Riêng dân chài lưới ở vùng duyên hải về hội, thường có lợn quay hay lợn sống để cả con, tế lễ xong mang xuống thuyền làm cỗ, ăn dần trong những ngày hội.

Ngoài ra, tại đền Kiếp Bạc vào năm 2006, chính quyền chính thức công nhận hình thức sinh hoạt tín ngưỡng lên đồng. Những người theo tín ngưỡng lên đồng thờ Thánh Trần được gọi là Thanh Đồng. Hiện nay lên đồng Trần Triều diễn ra thường xuyên tại đền Kiếp Bạc.

Theo Dulichh.org.vn
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015

Chùa Ưu Đàm (Điềm), Huế

Cách trung tâm thành phố Huế khoảng 40km về hướng Bắc, dọc theo con đường quốc lộ đến cầu Mỹ Chánh rồi rẽ theo đường quốc lộ 49B về chưa được 5km thì đến chùa Ưu Đàm (còn gọi là Ưu Điềm).

< Chính diện chùa Ưu Đàm.

Tên Ưu Đàm xuất phát từ một loài hoa Ưu Đàm bát  la (Udumbara) một loài hoa quý hiếm, tương truyền 3000 năm mới xuất hiện một lần, hoa xuất hiện thì kim luân vương xuất hiện, Phật xuất thế, các bô lão thủa ấy lấy đó đặt tên chùa và tên làng là Ưu Đàm. Chùa toạ lạc trên một khu “gò nổi” thuộc Giáp Tư thôn Ưu Điềm xã Phong Hoà, huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Chùa quay mặc về hướng chính Nam, trước mặc lấy cánh đồng ruộng lúa làm tiền án, sau lưng có con sông Ô Lâu huyền thoại ôm lấy làm hậu chẩm.
Dulichgo
Chùa có từ lầu đời. Theo dân làng kể lại thì vào khoảng thế kỷ thứ 16, khi chúa Nguyễn vào Nam lập nghiệp, để bình định và vỗ an dân chúng, hầu hết các làng xã đồng loạt xây chùa dựng tượng để con dân sinh hoạt tín ngưỡng, ổn định tinh thần mà chăm lo làm ăn, chùa Ưu Đàm cũng ra đời trong thời điểm đó.

< Tượng Phật Di Lặc và Bồ Tát Quán Thế Âm bằng chất lịêu đất sét nhồi trấu.

Nhưng theo sách Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An hiệu đính năm 1555 trong chương Phong Tục có nhắc đến chùa Ưu Đàm một câu rằng “Am Ưu Đàm nở nhiều hoa Bát la” thì chắc chắn chùa nầy phải có trước thời các chúa Nguyễn vào Nam lập nghiệp.

Trải qua thời gian chiến tranh, chùa được tu sửa nhiều lần. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí mục chùa quán thì đến năm Minh Mạng thứ 2, Tân Tỵ (1821) chùa được nhà vua ban chiếu, cấp bổng lộc để trùng tu. Năm 1954 chùa lại bị bom đạn làm hư hại và xuống cấp, con dân trong làng đã góp công góp của xây dựng lại bằng bê tông cốt thép theo mô hình kiến trúc kiểu chữ Công gồm tiền đường, chánh điện, và hậu liêu.

< Tượng nữ thần XiKa cổ.

Trong những năm trở lại đây, từ năm 1995 cho đến nay, mặc dầu chùa không đại trùng tu, nhưng đã chỉnh trang, sửa chữa cũng như đã làm mới rất nhiều hạng mục.

Những công trình có giá trị như Tiền đường, chánh điện, cổng tam quan, Quan Âm các, Đoàn quán Gia đình Phật tử, nhà ở...tất cả đã trở thành một hệ thống kiến trúc kiên cố và khang trang hơn rất nhiều.

Hiện tại chùa vẫn bảo lưu được một số cổ vật, pháp bảo cũng như những di chỉ xưa quý rất có giá trị văn hoá và khảo cổ như bộ tượng Bồ tát Di Lặc và Quán Âm được nắn bằng đất sét nhồi trấu, nồng tre sơn thếp vàng rất đẹp.

< Phù điêu Chăm cổ.

Đáng chú ý hơn hết là di chỉ Chăm-pa gồm một tượng nữ thần XiKa, bức phù điều vũ nữ cũng như trụ đá Linga... đã gây được sự chú ý và quan tâm của nhiều ban ngành của BTS cũng như của chính quyền tỉnh Thừa Thiên-Huế.
Dulichgo
Để bảo quản tốt những di vật nầy, năm 1995 Ban Hộ tự đã cho quy tụ, và xây dựng tôn trí tượng và các phù điêu, cổ vật trên một ví trí khu đất 50m2 sát bên cạnh chùa, dân làng gọi đó là Am Bà Phật Lồi. Hằng năm, có các đoàn khảo cổ từ cấp trung ương đến cấp tỉnh cũng như các giáo sư tiến sĩ nước ngoài đến tìm hiểu khảo sát.

< Tượng tiểu thực khí cổ.

Tất cả những cổ vật, pháp bảo xưa quý trên của chùa hiện vẫn còn rất nguyên trạng và được bảo quản tốt. Đáng tiếc, tượng nữ thần XiKa đã bị biến dạng qua nhiều “biến cố”.

Nguyên tượng được tạc bằng sa thạch, do ý thức bảo quản chưa tốt nên người ta đã cho sơn son thếp vàng vì vậy từ những năm 1975 đến 1980 những "đạo tặc" thiếu kiến thức tưởng là bằng vàng thật nên đã đến cưa tay, cưa đầu. May thay, tượng bằng đá nên đám ăn cắp đã  bỏ lại, dân làng thỉnh về hàn lại. Mặc dầu vậy, giá trị nguyên bản của pho tượng cũng đã phần nào biến dạng.

Ngoài tên chữ của chùa là Ưu Đàm, chùa còn có tên dân gian là chùa Bà Lồi, hay chùa Lồi. Giải thích về những tên dân gian nầy các truyền thuyết dân làng kể lại đều có nguồn gốc từ một sự tích của pho tượng Bà Lồi, tức tượng nữ thần XiKa:  xuất phát từ câu chuyện tượng Bà Lồi nên chùa còn được dân gian gọi là chùa Bà Lồi, hàng năn vào mùa lũ lụt, con dân trong làng đều tập trung lên chùa để tránh lụt, họ phát hiện chùa chưa hề bị nước ngập và hình như nước càng lên thì chùa cũng nổi theo, nên từ đó chùa còn được gọi là chùa Lồi...
Dulichgo
Chùa Ưu Đàm ngày nay là một trong những ngôi chùa được xếp vào hạng di tích lịnh sử cấp tỉnh, đồng thời trên bảng đồ du lịch của sở du lịch TT-Huế đã có bảng chỉ đường cho khách tham quan tìm đến tham quan và tìm hiểu lịch sử ngôi chùa là nơi chốn linh thiêng nhất của là Ưu Điềm (Đàm).

Theo Trí Năng (Giác Ngộ)
Du lịch, GO!

Chùa Từ Đàm - Danh lam xứ Huế

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015

Chùa Kim Cang Bình Xuyên

Chùa Kim Cang (Tổ đình) được xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ 19, theo kiến trúc chùa truyền thống. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông, tọa lạc tại ấp Bình Cang 1 - xã Bình Thạnh - huyện Thủ Thừa - tỉnh Long An.

< Cổng tam quan chùa Kim Cang.

Toàn bộ bối cảnh chùa được sơn nổi bật một màu vàng truyền thống cùng với những hoạ tiết trang trí màu đỏ. Bên ngoài là cổng tam quan với mái cong cổ kính. Sân trước chùa có đài Quan Âm, vườn tượng Lâm Tì Nì và vườn tượng đức Phật chuyển pháp luân.

Chùa đã trải nhiều lần trùng tu, sửa chữa. Trong đó quan trọng nhất là lần trùng tu dưới thời trụ trì của hoà thượng Minh Lương - Chánh Tâm. Chùa là nơi in và phát hành kinh Phật lớn của đất Gia Định xưa.

Hiện trong chùa còn lưu giữ nhiều bản in khắc gỗ kinh Phật bằng chữ Hán, đặc biệt là bảng kinh Kim Cang. Ngoài ra còn có nhiều pho tượng gỗ cổ. Đây là một trong những trung tâm Phật giáo của đất Gia Định, thể hiện qua việc in ấn kinh Phật và đào tạo tăng tài mà di tích xưa còn lại đến ngày nay.

Từ sân chùa, ta có thể thấy đỉnh mái trang trí phù điêu 'Lưỡng long Tranh châu', phía đuôi mái là hình hoa lá cách điệu.
Dulichgo
Trong khuôn viên chùa còn có mô hình vườn tượng thể hiện sống động sự tích Phật Thích Ca ra đời đi bảy bước dưới chân nở 7 toà sen. Nhìn chung, quần thể kiến trúc chùa Kim Cang rất đẹp mắt, thể hiện hài hoà từ đường nét đến cách phối trí màu sắc của từng công trình kết hợp với màu xanh tươi mát của cảnh quan, cây cối.

Chùa hiện là điểm An cư kiết hạ của chư Tăng, nơi tổ chức nhiều hoạt động giáo dục, hoằng pháp, từ thiện xã hội... của Phật giáo Long An. Văn phòng Ban Đại diện Phật giáo huyện Thủ Thừa cũng được đặt tại đây.
Chùa Kim Cang là ngôi cổ tự nổi tiếng ở miền Nam xưa nay.

Du lịch, GO! tổng hợp, ảnh internet

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

Chùa Lưỡng Xuyên: Trung tâm Phật giáo Miền Nam

Chùa Lưỡng Xuyên là một ngôi cổ tự nổi tiếng của Phật giáo Đại thừa Trà Vinh, thuộc hệ phái Bắc tông. Chùa còn là trung tâm của phật giáo Nam Kỳ, Chùa tọa lạc ở số 3 đường Lê Lợi, phường 1, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Chùa Lưỡng Xuyên được xậy dựng vào thế kỷ XIX, đến năm 1934, chùa được Hòa thượng Khánh Hòa  trùng tu lần 1 và đặt tên cho chùa là chùa Long Phước. Năm 1987, chùa lại được thầy Minh Hà trụ trì đã đổi tên là chùa Lưỡng Xuyên.  Lưỡng Xuyên có ý nghĩa chỉ hai con sông: Tiền Giang và Hậu Giang.

Vào những năm thập niên 1930, chùa từng là trung tâm Chấn hưng Phật giáo Nam kỳ, với sự hình thành và hoạt động hiệu quả của Lưỡng Xuyên Phật học hội” và “Lưỡng Xuyên Phật học đường” do các danh tăng Thích Huệ Quang, Thích Khánh Anh, Thích Khánh Hòa đề xướng và lãnh đạo.
Dulichgo
Chính “Lưỡng Xuyên Phật học đường” đã đào tạo hàng loạt tăng tài cho Phật giáo Việt Nam như các hòa thượng Thích Thiện Hoa, Thích Thiện Hòa… góp phần lèo lái con thuyền Phật giáo Việt Nam qua những giai đoạn thác ghềnh, theo đúng phương châm đạo pháp và dân tộc.

Vào năm 1934, Phật học Lưỡng Xuyên ra đời tai chùa và đây cũng là năm đánh dấu sự ra đời của hội Phật học Lưỡng Xuyên. Đã xuất bản tạp chí Duy Tâm Phật học và mở Phật học đường Lưỡng Xuyên do các Thiền sư Khánh Hòa, Khánh Anh và Huệ Quang phụ trách. Quý ngài đã dày công trong phong trào Chấn hưng Phật giáo và đào tạo tăng tài nửa đầu thế kỷ XX ở miền Nam.

Ngày nay, chùa Lưỡng Xuyên được chọn làm Văn phòng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Trà Vinh.

Từ năm 2003, Tỉnh hội Phật giáo Trà Vinh đã đứng ra trùng tu lớn và tổ chức lạc thành vào dịp hạ nguơn (Rằm tháng Mười âm lịch), xứng với tầm vóc lịch sử của một ngôi cổ tự từng là trung tâm Phật giáo Nam kỳ.
Dulichgo
Khuôn viên chùa Lưỡng Xuyên được xem là một “công viên Phật giáo” ngay giữa lòng thị xã Trà Vinh, với tượng Phật tổ bằng đá hoa cương cao hơn 3 mét, nặng 7 tấn uy nghi trên chánh điện.

Chùa trở thành một tòa phạm vũ khang trang, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tu học của Tăng Ni, Phật tử trong tỉnh, và là điểm du lịch tiếp đón du khách trong và ngoài nước đến tham quan, chiêm bái.

Theo Tin Nóng DL

Du lịch, GO!

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

Lễ hội Thánh Quý Minh Đại Vương

Trong suốt hành trình rước kiệu, tiến về đền Trần, du khách được chiêm ngưỡng “vịnh Hạ Long trên cạn” với những thung nước trong xanh, hang động lớp lớp nhũ đá lung linh kỳ ảo.

Cứ vào ngày 18/3 âm lịch hàng năm, tại quần thể danh thắng Tràng An, Ninh Bình, lễ hội truyền thống Thánh Quý Minh Đại Vương (hay còn gọi là Thánh Cao Sơn) được tổ chức. Đức thánh Quý Minh Đại Vương, theo truyền thuyết dân gian, là một trong ba anh em - ba vị tướng đã được phong Thánh (Đức thánh Tản Viên, Đức thánh Cao Sơn và Đức thánh Quý Minh), là người có công trấn ải Sơn Nam, bảo vệ đất nước thời vua Hùng Duệ Vương (tức Hùng Vương thứ 18), đồng thời cảm tạ ân đức của ngài đã phù trợ, giúp mưa thuận, gió hoà, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Gần 1.000 chiếc thuyền đưa du khách vào một vùng non nước chứa đựng bao huyền thoại. Những thung nước trong xanh, hệ thống hang động hiện lên lung linh, kỳ ảo.

Đến khu vực đền Trình, đoàn thuyền quy tụ lại tiến hành làm nghi lễ rước nước.
Dulichgo
Sau ông chủ tế là hai thiếu nữ mặc áo dài trắng tượng trưng cho 2 cô gái đồng trinh múc nước vào chóe, sau đó rước về đền Trần cúng thánh.

Một trong những điểm nhấn đặc trưng của lễ hội là màn múa rồng trên sông Sào Khê giữa nền trống sôi động.

Ninh Bình có 66 đền thờ Đức Thánh Quý Minh Đại Vương như đình làng Sinh Dược (xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn), núi Cánh Diều (thành phố Ninh Bình), núi Thiện Dưỡng, đền Kê Thượng (xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư)...

Lễ tế được tổ chức ở đền Trần, nơi tôn thờ Đức Thánh Quý Minh Đại Vương nổi tiếng linh thiêng. Đền được vua Đinh Tiên Hoàng xây dựng vào thế kỷ thứ 10 với mong muốn mượn uy danh của Thánh để trấn trạch theo 4 hướng đông - tây - nam - bắc.
Dulichgo
Tuy nhiên, ngôi đền cũ bằng gỗ do Đinh Tiên Hoàng xây dựng đã đổ nát. Sau này, nhà Trần cho xây lại bằng các cột đá còn nguyên vẹn đến ngày nay, từ đó nhân dân quen gọi là đền Trần. Đền nằm giữa một vùng sơn thủy hữu tình thuộc khu du lịch sinh thái Tràng An.

Lễ hội năm 2015 diễn ra trong 2 ngày (6-7/5) với nhiều hoạt động như lễ dâng hương, rước kiệu và rước chân nhang từ đền Trần về đền Suối Tiên; lễ rước nước, dâng hương, hô thần nhập tượng tại đền Suối Tiên...

Cùng vẻ đẹp của quần thể danh thắng Tràng An cùng hệ thống hang động, thung nước liên hoàn tạo thành một vòng tròn khép kín, lễ hội truyền thống Thánh Quý Minh Đại Vương góp thêm nét đẹp văn hóa hấp dẫn trong chuỗi hành trình khám phá di sản thế giới tại Ninh Bình.

Theo Lê Bích (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Đình Đà Sơn, quận Liên Chiểu

Đình Đà Sơn hiện nay toạ lạc tại phường Hoà Khánh Nam, quận Liên Chiểu. Đà Sơn là tên một ngôi làng cổ, có lịch sử xưa nhất của thành phố Đà Nẵng. Căn cứ vào gia phả tộc Phan Đà Sơn còn lưu giữ, họ Phan ở Đà Sơn là tộc đầu tiên ở Quảng Nam- Đà Nẵng. Gia đình tộc Phan cùng các tộc họ người Việt như: Nguyễn, Kiều, Đỗ đã khai hoang lập làng và ở lẫn với người Chăm. Vùng đất được khai phá khá rộng lớn.

Do có công khai hoang mở đất và giáo hoá dân sinh sống ổn định nên ông Phan Công Thiên được vua Trần ban tước Thuận Quốc Công và phong cấp 50 trang trại. Tộc Phan, Nguyễn, Đỗ đã trở thành các tộc tiền hiền của làng; về sau cư dân các nơi đến sinh sống ngày càng đông phát triển thành 12chư phái tộc như: Lê, Trần, Phạm, Huỳnh, Hồ, Trà, Đặng, Trương…

Sau khi cộng đồng cư dân làng Đà Sơn được hình thành ngôi đình đầu tiên của làng Đà Sơn đã được xây dựng tại Gò Me để có nơi thờ tự và sinh hoạt văn hoá bằng các vật liệu thô sơ.

Sau một thời gian dài đình đã được di dời và sửa chữa nhiều lần. Lần cuối cùng tại địa điểm ngày nay vào năm Tân Dậu (1801), đình đường tái thiết bề thế hơn: có tiền đường, hậu tẩm, kiến trúc, chạm khắc trang trí đẹp… Đến năm 2006, một lần nữa ngôi đình lại được trùng tu lớn theo dạng ba gian hai mái với tường xây, mái lợp ngói âm dương như hiện nay.

Đình Đà Sơn được xây dựng trên một khoảnh đất rộng, có tường bao bọc xung quanh, mặt đình quay về hướng Nam, kiến trúc của đình theo dạng ba gian hai mái với tường xây, mái lợp ngói âm dương, có chính điện và hậu tẩm.

Chính điện kết cấu bộ vì theo lối trụ chống kẻ chuyền, các thanh trính hình cạnh khế, đuôi kèo chạm nổi đầu rồng sắc sảo. Giữa các gian có treo những bức hoành phi. Chính điện là nơi thờ các vị tiền hiền, hậu hiền khai khẩn và dựng xây làng xã, hai bên có các bàn thờ và câu đối. Hậu tẩm là nơi thâm nghiêm để thờ thần.

Bên ngoài , trên nóc đắp “lưỡng long triều nguyệt”, đường giữa mái gắn hình loan phượng. Phía trước, giữa khoảng sân rộng là tấm bình phong.
Dulichgo
Tại đình còn giữ bảy sắc phong thời phong kiến, nhưng đến nay do các tác nhân khách quan, số sắc phong đã bị mục nát và hư hỏng nặng. Qua lắp ghép lại các mảnh vụn có thể xác định được niên đại của ba sắc là: Thiệu Trị năm thứ 3 (1843), Tự Đức thứ 13 (1860) và Duy Tân nguyên niên (1907).

Theo thời gian, đình Đà Sơn ngày càng gắn chặt với đời sống tâm linh và lịch sử của dân làng, không thể tách rời đời sống cộng đồng. Hằng năm dân làng Đà Sơn vẫn thường tổ chức cúng tế theo các ngày:

- Ngày 10-3 âm lịch, lễ tế Thành Hoàng bổn xứ, cầu quốc thái dân an. Theo các bậc cao niên, trước đây vào ngỳa này dân làng tổ chức lễ khai hội, lễ tế tại đình làng; trước đó một ngày 12 chư phái tộc trong làng tham gia rước sắc từ nhà thủ sắc về đình. Bên cạnh lễ cầu quốc thái dân an còn có các trò chơi dân gian truyền thống tại đình thu hút nhân dân các làng lân cận tập trung thưởng thức

 - Ngày 16-3 âm lịch: cúng âm linh.
-  Ngày 01-10 âm lịch cúng thần nông

Đình Đà Sơn được công nhận là di tích Lịch sử- Văn hoá cấp thành phố ngày 07/8/2010

Theo Danang.gov
Du lịch, GO!